THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 36 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0050.
- Pháp luật áp dụng: Luật Đất đai năm 2013.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Lý do chọn đề tài | 1 |
| 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu | 2 |
| 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu | 2 |
| 4. Phương pháp nghiên cứu | 3 |
| 5. Kết cấu của đề tài | 3 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI | 4 |
| 1.1. Lý luận về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai | 4 |
| 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân và phân loại các tranh chấp đất đai | 4 |
| 1.1.2. Khái niệm, đặc trưng, mục đích và ý nghĩa của giải quyết tranh chấp đất đai | 7 |
| 1.2. Lý luận về pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai | 9 |
| 1.2.1. Sự cần thiết của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai | 9 |
| 1.2.2. Các nguyên tắc của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai | 9 |
| 1.2.3. Cơ cấu về nội dung của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai | 10 |
| 1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai | 11 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 | 13 |
| CHƯƠNG 2: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI HIỆN HÀNH VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN | 14 |
| 2.1. Giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định pháp luật đất đai hiện hành | 14 |
| 2.1.1. Quy định về thủ tục hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai | 14 |
| 2.1.2. Quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai | 15 |
| 2.2. Giải quyết tranh chấp đất đai qua thực tiễn ở huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh | 19 |
| 2.2.1. Việc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua cơ quan quản lý hành chính | 19 |
| 2.2.2. Tình hình giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án nhân dân huyện | 21 |
| 2.2.3. Đánh giá việc giải quyết tranh chấp đất đai tại huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh | 21 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 | 24 |
| CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI | 25 |
| 3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai | 25 |
| 3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện và giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai | 26 |
| 3.2.1. Một số kiến nghị | 26 |
| 3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai | 28 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 | 29 |
| KẾT LUẬN | 30 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước. Không ai có thể phủ nhận vai trò quan trọng của đất đai đối với cuộc sống của con người, nó có ý nghĩa hàng đầu trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng của mỗi quốc gia.
Tranh chấp đất đai là một hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội, ở mọi quốc gia và mọi thời kỳ, không phụ thuộc vào chế độ sở hữu đất đai. Ở Việt Nam, Bộ Tài nguyên- Môi trường đã từng đề xuất thành lập một cơ quan tài phán chuyên trách để giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện về đất đai đã phần nào cho thấy sự nghiêm trọng của vấn đề này. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, mà một trong số đó chính là do quy định của pháp luật về vấn đề tranh chấp đất đai trong thời gian qua còn nhiều bất cập, hạn chế.
Tranh chấp đất đai phát sinh nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến các mặt của đời sống xã hội, tổn thương đến các mối quan hệ trong cộng đồng dân cư, gây ra sự mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tranh chấp đất đai kéo dài nếu không được giải quyết dứt điểm sẽ dẫn đến “điểm nóng”, bị kẻ xấu lợi dụng, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước. Trong thời gian vừa qua Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai nhằm ổn định tình hình chính trị- xã hội. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đất đai ngày càng được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, trong đó có quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai thuộc về Ủy ban nhân dân và Tòa án nhân dân. Tuy nhiên, các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai mới chỉ dừng lại ở mức độ chung chung, nên thực tiễn dẫn đến sự chồng chéo, đùn đẩy giữa Ủy ban nhân dân và Tòa án nhân dân. Do đó tình hình giải quyết tranh chấp đất đai của các cơ quan hành chính và Tòa án nhân dân trong những năm qua vừa chậm trễ, vừa không thống nhất.
Qua nghiên cứu thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự hiện nay, việc giải quyết tranh chấp đất đai được các chủ thể liên quan đánh giá là dạng tranh chấp khó khăn, phức tạp nhất, có liên quan đến nhiều vấn đề nhất. Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về đất đai, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của các cơ quan có thẩm quyền trong, trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị, nhằm sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về đất đai và đưa ra hướng giải quyết các tranh chấp đất đai một cách hợp lý, có hiệu quả, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân là việc làm có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn hiện nay. Với những lí do nêu trên, bản thân em đã lựa chọn chủ đề “Giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định pháp luật đất đai hiện hành: Liên hệ thực tiễn” làm đề kết thúc học phần Luật đất đai.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: làm sáng tỏ những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai. Từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai.
Nhiệm vụ nghiên cứu: nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai; tìm hiểu thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai để nhận diện rõ nét những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp đất đai. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp góp phần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai và nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết tranh chấp đất đai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các quy định của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành về giải quyết tranh chấp đất đai; thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, trong quá trình nghiên cứu, phân tích và làm rõ các nhiệm vụ sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lê nin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là cơ sở để tiến hành nghiên cứu lý luận, phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp phù hợp.
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Phương pháp phân tích được sử dụng khi nghiên cứu Chương 1. Những vấn đề lý luận pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai.
Phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp… được sử dụng khi đề cập định hướng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai.
Phương pháp lập luận logic các luận điểm, luận cứ được sử dụng khi nghiên cứu đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai;
Chương 2: Giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định pháp luật đất đai hiện hành và liên hệ thực tiễn
Chương 3: Định hướng, một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
1.1. Lý luận về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân và phân loại các tranh chấp đất đai
1.1.1.1. Khái niệm tranh chấp đất đai
Khái niệm tranh chấp đất đai được quy định tại Khoản 24 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 như sau: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Từ nội dung khái niệm chúng ta có thể nhận định rằng khi các bên xảy ra tranh chấp mà không thể cùng nhau tự giải quyết các tranh chấp đó mà phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phán xử nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên trong tranh chấp.
1.1.1.2. Đặc điểm của tranh chấp đất đai
Một là, các chủ thể tranh chấp đất đai chỉ là chủ thể quản lý và sử dụng đất, không có quyền sở hữu đối với đất đai.
Hai là, đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý, quyền sử dụng và những lợi ích phát sinh từ quá trình sử dụng một loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sử dụng của các bên tranh chấp.
Ba là, so với các loại tranh chấp khác, tranh chấp đất đai có nội dung rất đa dạng và phức tạp. Điều này xuất phát từ việc trong nền kinh tế thị trường, các hoạt động quản lý và sử dụng đất ngày càng trở nên rất đa dạng, phong phú do đất đai được sử dụng vào nhiều mục đích, với diện tích, nhu cầu sử dụng khác nhau.
Bốn là, tranh chấp đất đai luôn gắn liền với quá trình sử dụng đất của các chủ thể nên không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia tranh chấp mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước. Vì trước hết, khi xảy ra tranh chấp, một bên không thực hiện được những quyền của mình, do đó ảnh hưởng đến việc thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước .
1.1.1.3. Phân loại tranh chấp đất đai
Sự tồn tại của các dạng tranh chấp đất đai tự thân nó là sự phản ánh những đặc trưng của quan hệ pháp luật đất đai ở từng thời kì nhất định. Căn cứ vào tính chất pháp lí của các tranh chấp, có một số dạng chủ yếu sau đây:
Tranh chấp về quyền sử dụng đất: là những tranh chấp giữa các bên với nhau về việc ai có quyền sử dụng hợp pháp đối với một mảnh đất nào đó.
Tranh chấp về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất: dạng tranh chấp này thường xảy ra khi các chủ thể có những giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất hoặc các tranh chấp liên quan đến việc bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư…
Tranh chấp về mục đích sử dụng đất: đây là dạng tranh chấp ít gặp hơn, những tranh chấp này liên quan đến việc xác định mục đích sử dụng đất là gì? Thông thường những tranh chấp này có cơ sở để giải quyết vì trong quá trình phân bổ đất đai cho các chủ thể sử dụng, Nhà nước đã xác định mục đích sử dụng đất thông qua quy hoạch sử dụng đất. Tranh chấp chủ yếu do người sử dụng đất sử dụng sai mục đích so với khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất.
1.1.1.4. Nguyên nhân của tranh chấp đất đai
Nguyên nhân khách quan: Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự thay đổi cơ chế quản lý làm cho đất đai ngày càng trở nên có giá trị đã tác động đến tâm lý của nhiều người dẫn đến tình trạng tranh chấp, đòi lại nhà, đất mà trước đó đã bán, cho thuê, cho mượn, đã bị tịch thu hoặc giao cho người khác sử dụng hoặc khi thực hiện một số chính sách về đất đai ở các giai đoạn trước đây mà không có các văn bản xác định việc sử dụng đất ổn định của họ. Những tổ chức đó bao chiếm quá nhiều diện tích đất nhưng sử dụng lại kém hiệu quả . Đất nước ta trải qua thời gian chiến tranh kéo dài, gây xáo trộn lớn về nơi cư trú cùng với những chính sách đất đai khác nhau áp dụng của từng thời kỳ, đã dẫn đến những biến động lớn về chủ sử dụng đất. Mặc dù Luật Đất đai năm 1993 và 2003 đã quy định, Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất Nhà nước đã quản lý và giao cho người khác sử dụng nhưng nhiều trường hợp vẫn tranh chấp, khiếu nại đòi lại đất cũ.
Nguyên nhân chủ quan:
Về cơ chế quản lí: thời gian qua công tác quản lí đất đai còn yếu kém. Nhà nước phân công, phân cấp cho quá nhiều ngành dẫn đến việc quản lí đất đai thiếu chặt chẽ. Công tác phân vùng quy hoạch đất đai làm chậm, thiếu đồng bộ, việc phân chia địa giới hành chính có nhiều thay đổi nhưng xác định mốc giới không kịp thời hoặc không rõ ràng làm cho tình trạng tranh chấp đất đai phức tạp thêm, phương tiện và hồ sơ phục vụ cho công tác quản lí đất đai còn thiếu, chưa có đầy đủ những cơ sở khoa học và phương pháp quản lí cần thiết để xác định quyền sử dụng đất cho các chủ thể nên đã làm giảm hiệu lực của nhà nước trong việc giải quyết tranh chấp đất đai.
Về chính sách, pháp luật đất đai chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, có mặt không rõ ràng và đang còn nhiều biến động. Hơn nữa thực tế áp dụng các chính sách còn nhiều sự tùy tiện. Bên cạnh đó các văn bản hướng dẫn thi hành chậm được ban hành làm cho việc áp dụng pháp luật được thực hiện một cách thiếu hiệu quả.
Việc điều tra, xem xét giải quyết tranh chấp đất đai còn yếu kém, hiệu lực thấp, chưa thật sự quan tâm đến những giải pháp mang tính quần chúng.
Về cán bộ, công chức thực hiện công vụ liên quan tới đất đai, một bộ phận cán bộ công chức còn thiếu gương mẫu, tùy tiện trong quản lí, vi phạm chế độ quản lí và sử dụng đất đai.
Việc tranh chấp đất đai ở mỗi địa phương còn có những nguyên nhân đặc thù. Việc tìm ra những nguyên nhân cụ thể của tranh chấp phải căn cứ vào thực tế sử dụng đất, phong tục tập quán của từng địa phương để có được những giải pháp tốt nhất.
1.1.2. Khái niệm, đặc trưng, mục đích và ý nghĩa của giải quyết tranh chấp đất đai
1.1.2.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai
Trên cơ sở khái niệm tranh chấp đất đai chúng ta có khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai như sau: “giải quyết tranh chấp đất đai là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên để tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ đất đai”.
1.1.2.2. Đặc trưng của giải quyết tranh chấp đất đai
Hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai có những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, giải quyết tranh chấp đất đai là nội dung quản lí nhà nước về đất đai. Hoạt động này do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện căn cứ vào các quy định của pháp luật, quan điểm, đường lối của Đảng và thực tiễn sử dụng đất để tìm ra phương thức phù hợp nhằm giải quyết bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên tranh chấp.
Thứ hai, do đất đai là vấn đề nhạy cảm, phức tạp và có tầm quan trọng trên nhiều phương diện, hơn nữa việc quản lí và sử dụng đất có nhiều biến động qua các thời kỳ lịch sử nên tranh chấp đất đai xảy ra rất phức tạp, có đông người tham gia. Hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, khuyến khích các tổ chức quần chúng ở cơ sở và người dân tham gia giải quyết tranh chấp đất đai. Trong giải quyết tranh chấp đất đai, Nhà nước coi trọng và đề cao các phương thức thương lượng, hòa giải nhằm giải quyết ổn thỏa tranh chấp, duy trì sự ổn định chính trị- xã hội, đảm bảo sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân.
Thứ ba, do đặc thù của chế dộ sở hữu toàn dân về đất đai nên Nhà nước không thừa nhận và không xem xét giải quyết các tranh chấp về đòi lại đất đã chia cấp cho người khác khi thực hiện chính sách đất đai qua các thời kỳ.
Thứ tư, việc giải quyết tranh chấp đất đai không chỉ dựa vào quan điểm, đường lối của Đảng; chính sách pháp luật của Nhà nước mà còn căn cứ vào tâm lý, thị hiếu, phong tục tập quán…trong quá trình quản lý, sử dụng đất đai của người dân ở các vùng miền khác nhau trong cả nước.
1.1.2.3. Mục đích và ý nghĩa của giải quyết tranh chấp đất đai
Pháp luật là phương tiện quan trọng để Nhà nước quản lí xã hội, quản lí nền kinh tế nhưng nếu Nhà nước chỉ ban hành pháp luật mà không có những biện pháp bảo đảm được thực hiện thì pháp luật cũng không thể phát huy được vai trò của mình. Vì thế cùng với việc ban hành pháp luật, Nhà nước còn đảm bảo cho pháp luật được thi hành.
Việc xem xét giải quyết tranh chấp đất đai là một nội dung quan trọng trong hoạt động quản lí nhà nước đối với đất đai và là một biện pháp để pháp luật đất đai phát huy được vai trò trong đời sống xã hội. Thông qua việc giải quyết tranh chấp đất đai, các quan hệ đất đai được điều chỉnh cho phù hợp với lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của người sử dụng đất, giáo dục ý thức pháp luật cho công dân để ngăn ngừa những vi phạm pháp luật khác có thể xảy ra. Với ý nghĩa đó thì việc giải quyết tranh chấp đất đai là việc tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Trên cơ sở đó phục hồi các quyền lợi hợp pháp cho bên bị xâm hại đồng thời bắt buộc bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả pháp lí do hành vi của họ gây ra. Đó cũng là công việc có ý nghĩa quan trọng để tăng cường pháp chế trong lĩnh vực quản lí và sử dung đất đai.
1.2. Lý luận về pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai
1.2.1. Sự cần thiết của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai
Nhà nước thực hiện chức năng quản lí của mình trên tất cả các phương diện của đời sống xã hội, trong quá trình phát triển kinh tế đất nước sẽ không thể tránh khỏi những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh giữa chủ thể quản lí nhà nước và đối tượng quản lí và lĩnh vực đất đai cũng không ngoại lệ ( đó chính là tranh chấp trong lĩnh vực đất đai). Đã từ lâu ở nước ta để giải quyết loại tranh chấp này, Nhà nước đã thiết lập con đường giải quyết hành chính, tòa án theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện khiếu nại đến các cơ quan quản lí nhà nước về đất đai để được giải quyết theo thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật đất đai và pháp luật khiếu nại. Sau khi Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1995 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 ra đời và có hiệu lực thi hành, việc giải quyết các tranh chấp hành chính về đất đai còn được Toà án nhân dân thực hiện theo thủ tục tố tụng hành chính. Kể từ đó tới nay, pháp luật điều chỉnh giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai liên tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện. Sự tồn tại song song hai phương thức giải quyết mang lại hiệu quả tích cực, đã góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các các chủ thể sử dụng đất, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và bảo đảm pháp chế trong hoạt động của các cơ quan nhà nước hữu quan. Tuy nhiên, sau khi Luật đất đai 2013 có hiệu lực thi hành ngày đến nay, tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai có xu hướng gia tăng cả về số lượng, tính chất phức tạp và phản ứng bức xúc của người dân, trong khi đó, việc giải quyết loại tranh chấp này cũng bộc lộ nhiều bất cập.
1.2.2. Các nguyên tắc của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai
Nguyên tắc đảm bảo đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thực hiện vai trò là người đại diện cho chủ sở hữu: đây là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai, đòi hỏi khi xem xét giải quyết mọi vấn đề phát sinh trong quan hệ pháp luật đất đai đều phải thực hiện trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân, bảo vệ quyền lợi cho người đại diện của chủ sở hữu, bảo vệ thành quả cách mạng về ruộng đất.
Nguyên tắc bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất nhất là lợi ích kinh tế, khuyến khích việc tự hòa giải, thương lượng trong nội bộ quần chúng nhân dân
Việc giải quyết tranh chấp đất đai phải nhằm mục đích ổn định tình hình kinh tế- xã hội, gắn việc giải quyết tranh chấp đất đai với việc tổ chức lại sản xuất, tạo điều kiện cho lao động ở nông thôn có việc làm phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0050″]
