![[Tiểu luận 2024] Thực trạng pháp luật về Người đại diện của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình [Tiểu luận 2024] Thực trạng pháp luật về Người đại diện của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình](https://cdn.tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/nguoi-dai-dien-cua-duong-su-trong-phap-luat-to-tung-dan-su-thuc-tien-quang-binh-1.jpg)
THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 25 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0044.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ | 2 |
| 1.1. Khái niệm và đặc điểm của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự | 2 |
| 1.1.1. Khái niệm người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự | 2 |
| 1.1.2. Đặc điểm của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự | 3 |
| 1.2. Quy định của pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự | 6 |
| 1.2.1. Căn cứ xác lập quan hệ người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự | 6 |
| 1.2.2. Phạm vi tham gia tố tụng dân sự của người đại diện của đương sự | 7 |
| 1.2.3. Quyền và nghĩa vụ tố tụng của người đại diện cho đương sự trong tố tụng dân sự | 8 |
| 1.2.5. Chấm dứt đại diện và hậu quả pháp lý của chấm dứt đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự | 9 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH | 13 |
| 2.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự tại tỉnh Quảng Bình | 13 |
| 2.2. Một vài vướng mắc, bất cập về người đại diện của đương sự | 17 |
| 2.3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự | 18 |
| KẾT LUẬN | 21 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 22 |
LỜI MỞ ĐẦU
Cho đến nay, sau mấy thập kỷ tiến hành hội nhập quốc tế, người dân Việt Nam chúng ta khi nhìn lại đã phần nào thấy được một xã hội luôn vận động, một nền kinh tế thị trường năng động, hội nhập. Đời sống dân sự cũng thế, xã hội phát triển thì giao dịch dân sự nói chung cũng phát triển theo, ngày càng sôi động và linh hoạt. Tuy nhiên trong đời sống hiện nay, vì những lí do khách quan, không phải chủ thể nào cũng có thể tự mình tham gia vào các giao dịch dân sự ấy. Vì vậy pháp luật cho phép một chủ thể có quyền trao quyền đó cho một người khác để thực hiện công việc thay mình để đạt được mục đích mong muốn bằng chế định về người đại diện.
Trong tố tụng dân sự, đương sự có quyền tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, không phải bất kỳ trường hợp nào đương sự cũng có thể tự mình thực hiện các quyền tố tụng đó. Vì nguyên nhân chủ quan (như hạn chế về năng lực hành vi, thiếu kiến thức pháp luật…), nguyên nhân khách quan (như thời gian, vị trí địa lý…) dẫn tới việc đương sự không thể tự tham gia tố tụng để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chính vì vậy, đương sự cần có người đại diện thay mặt mình thực hiện các quyền tố tụng để đảm bảo tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Pháp luật Việt Nam đã có hệ thống các quy định về người đại diện của đương sự tương đối đầy đủ, là cơ sở pháp lý quan trọng để các chủ thể thiết lập thực hiện quan hệ người đại diện. Tuy nhiên các quy định pháp luật về người đại diện của đương sự còn có nhiều quy định khá chung, một số quy định còn chưa phù hợp với thực tiễn. Từ những yêu cầu thực tế trên, đòi hỏi Nhà nước cần có những biện pháp khắc phục những hạn chế trên như ban hành, sửa đổi những văn bản pháp luật, điều chỉnh giải quyết các vấn đề phát sinh về vấn đề người đại diện.
Trên cơ sở những phân tích ở trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Người đại diện của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình”.
CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. Khái niệm và đặc điểm của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
1.1.1. Khái niệm người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
Quan hệ đại diện trong tố tụng dân sự xuất hiện do nhu cầu từ thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự. Trong tố tụng dân sự, đối với cá nhân, trong một số trường hợp, vì các lý do và hoàn cảnh khác nhau không thể trực tiếp tham gia tố tụng nên cần thiết phải có người thay mặt họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Người đại diện của đương sự tham gia tố tụng dân sự có ý nghĩa rất lớn. Một mặt, việc tham gia tố tụng của họ có tác dụng đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, nhất là trong trường hợp họ là người bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi tố tụng dân sự. Mặt khác, việc tham gia tố tụng của họ còn có tác dụng nhất định trong việc làm rõ sự thật về vụ việc dân sự. Để thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự, người đại diện của đương sự phải là người có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Những người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự thì không thể thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trước Toà án được. Thông thường người đại diện của đương sự phải là các cá nhân. Bởi, các cá nhân mới tự mình chủ động thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự trong tố tụng được. Tuy vậy, pháp luật tố tụng dân sự quy định có trường hợp ngoại lệ như trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác cũng là người đại diện cho đương sự[1]. Như vậy, trong trường hợp này sẽ nảy sinh nhiều quan hệ đại diện: quan hệ đại diện giữa cơ quan, tổ chức khởi kiện với đương sự, quan hệ đại diện giữa người đại diện cho cơ quan, tổ chức khởi kiện với cơ quan, tổ chức khởi kiện.
Xuất phát từ tính đa dạng của các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự nên người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự cũng rất đa dạng. Dựa vào vào ý chí của đương sự, pháp luật tố tụng dân sự hiện hành chia người đại diện thành hai loại: Người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo uỷ quyền.
Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm khái quát về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự như sau:
Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự là người tham gia tố tụng nhân danh đương sự, thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự trước tòa án. Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền.
Người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự là người tham gia tố tụng trên cơ sở quy định của pháp luật, nhân danh đương sự, thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự trước tòa án.
Người đại diện theo uỷ quyền của đương sự trong tố tụng dân sự là người tham gia tố tụng trên cơ sở ý chí của đương sự hoặc người đại diện theo pháp luật của đương sự, nhân danh đương sự, thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự trước tòa án.
1.1.2. Đặc điểm của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
Thứ nhất, người đại diện là các cá nhân hoặc pháp nhân có đủ năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự
Đối với cá nhân là người đại diện của đương sự phải có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Bởi vì, chỉ khi có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự họ mới có đủ khả năng nhận thức và phản ánh, đảm bảo cho việc thực hiện được các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự. Trên thực tế, quá trình giải quyết vụ việc dân sự rất phức tạp. Muốn thay mặt đương sự tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho đương sự thì người đại diện phải có khả năng nhận thức, phân tích, chứng minh và điều khiển được hành vi của mình trong việc tham gia tố tụng. Chính vì vậy, người đại diện của đương sự phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự để thực hiện được các quyền và nghĩa vụ của đương sự. Những người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự thì không thể thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trước Toà án. Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự. Năng lực hành vi tố tụng dân sự của chủ thể được xác định bởi khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của họ.
Đối với pháp nhân thì pháp nhân đó phải được thành lập theo quy định của pháp luật, việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện của pháp nhân. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được xác định căn cứ vào điều lệ của pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đối với các cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì các cơ quan, tổ chức này có quyền khởi kiện đối với các loại việc trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình do pháp luật quy định… Mặc dù vậy, ngay cả các trường hợp này thì các cơ quan, tổ chức nêu trên cũng phải cử một cá nhân có đầy đủ năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự tham gia tố tụng.
Thứ hai, người đại diện của đương sự tham gia quan hệ tố tụng trên cơ sở quan hệ đại diện
Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự đồng thời tham gia hai quan hệ: quan hệ đại diện và quan hệ tố tụng. Quan hệ đại diện xác lập mối liên hệ giữa đương sự và người đại diện của đương sự. Quan hệ đại diện có thể được xác lập trên cơ sở quy định của pháp luật và đại diện theo pháp luật đối với đại diện của cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi hoặc đại diện theo pháp luật của pháp nhân hoặc được hình thành trên cơ sở thỏa thuận ý chí giữa các bên (đại diện theo ủy quyền). Đối với quan hệ đại diện theo quy định của pháp luật thì quan hệ đại diện được xác định trên cơ sở quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ giám hộ hoặc có thể được toà án chỉ định là người đại diện thay mặt cho đương sự tham gia tố tụng dân sự. Quan hệ đại diện theo ủy quyền được xác lập dựa trên ý chí của đương sự (nếu đương sự là người đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự) hoặc người đại diện theo pháp luật của đương sự (nếu đương sự là người không đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự hoặc đương sự là pháp nhân). Quan hệ đại diện do pháp luật dân sự điều chỉnh và là cơ sở để người đại diện của đương sự tham gia vào quan hệ tố tụng.
Thứ ba, quyền và nghĩa vụ của người đại diện phụ thuộc vào quyền và nghĩa vụ của đương sự và bản chất của quan hệ đại diện
Vì bản chất của quan hệ đại diện là việc người đại diện thay mặt đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đươn sự nên quyền và nghĩa vụ của người đại diện cũng phụ thuộc vào nội dung quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự. Người đại diện của nguyên đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn. Quyền và nghĩa vụ tố tụng của những đương sự ở vị trí tố tụng khác nhau thì khác nhau, theo đó người đại diện của từng loại đương sự khác nhau thì thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng khác nhau. Hơn nữa, quyền và nghĩa vụ của người đại diện còn phụ thuộc vào nội dung quan hệ đại diện giữa người được đại diện và người đại diện trong trường hợp quan hệ đại diện theo uỷ quyền. Trong trường hợp uỷ quyền hoặc văn bản uỷ quyền, hai bên trong quan hệ đại diện hầu như đều sẽ quy định rõ phạm vi đại diện, tức là những quyền và nghĩa vụ mà người đại diện được thay cho đương sự trong thười gian quan hệ đại diện có hiệu lực.
1.2. Quy định của pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
1.2.1. Căn cứ xác lập quan hệ người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
Thứ nhất, đối với trường hợp đại diện theo pháp luật thì người đại diện theo pháp luạt của đương sự được pháp luật dự liệu trước cho đương sự là cá nhân hay pháp nhân.
Người đại diện theo pháp luật của cá nhân xuất hiện trong trường hợp đương sự là người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự như: Người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp người từ 15 đến dưới 18 tuổi đã tham gia quan hệ dân sự bằng tài sản của chính mình; người mất NLHVDS; người có khó khăm trong nhận thức và làm chủ hành vi, người bị hạn chế NLHVDS việc xác định người đại diện theo pháp luật của cá nhân thông thường được dựa trên quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng hoặc theo quyết định của Tòa án. Trong trường hợp đặc biệt, pháp luật tố tụng dân sự còn quy định Tòa án chỉ định người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự. Tòa án chỉ định người đại diện cho đương sự trong trường hợp đương sự là người bị hạn chế NLHVDS mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật không được đại diện. Do đó, người được tòa án chỉ định làm người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự cũng chính là người đại diện theo pháp luật của đương sự.
Thứ hai, đối với pháp nhân, việc xác định người đại diện theo pháp luật của pháp nhân dựa trên cơ sở điều lệ của pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đối với trường hợp bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, pháp luật cần xác định trước các cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện, tham gia tố tụng để bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng và điều kiện tham gia tố tụng.
Thứ ba, đối với cá nhân có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, tuy nhiên, vì lý do nào đó mà nhiều đương sự không có điều kiện trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ trong việc tham gia tố tụng dân sự nên có thể ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng.
Căn cứ xác lập quan hệ đại diện này chính là giao dịch uỷ quyền. Khoản 1 Điều 138 BLTTDS năm 2015 quy định cá nhân, pháp nhân có thể uỷ quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Thông qua giao dịch uỷ quyền, đương sự uỷ quyền cho người đại diện thay mặt họ tham gia tố tụng nhằm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự. Theo quy định tại Điều 86 BLTTDS năm 2015 thì việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản.
Có thể thấy, việc quy định hình thức ủy quyền bằng văn bản cho phép xác định rõ ràng ý chí của đương sự và người đại diện của đương sự trong quan hệ ủy quyền, xác định phạm vi ủy quyền cũng như quyền và nghĩa vụ của người đại diện ủy quyền, chấm dứt đại diện. Song quy định này có thể sẽ không linh hoạt khi thực hiện ủy quyền cũng như chấm dứt ủy quyền.
1.2.2. Phạm vi tham gia tố tụng dân sự của người đại diện của đương sự
Căn cứ tại Điều 85 BLTTDS năm 2015 thì phạm vi đại diện của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự được dẫn chiếu qua Điều 141 BLDS năm 2015. Theo đó, phạm vi đại diện được xác định theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Ví dụ: Toà án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện), xác định thông qua điều lệ của pháp nhân (ví dụ điều lệ công ty xác định người đại diện theo pháp luật chỉ được nhân dân danh công tý ký kết hợp có giá trị dưới 10 tỷ đồng), xác định thông qua nội dung uỷ quyền (ví dụ như A uỷ quyền cho B tham gia ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá với công ty C, thì B chỉ được ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá liên quan với công ty C mà thôi), xác định thông qua quy định của pháp luật.
[1] Khoản 2 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0044″]
