THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
- Định dạng: WORD
- Số trang: 32 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0192.
- Pháp luật áp dụng: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hiến pháp năm 2013.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | 1 |
| MỞ ĐẦU | 2 |
| 1. Lý do chọn đề tài | 2 |
| 2. Tình hình nghiên cứu đề tài trong nước và ngoài nước liên quan đến đề tài | 3 |
| 3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài | 3 |
| 4. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu | 3 |
| 5. Cấu trúc của đề tài | 4 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LY HÔN | 5 |
| 1.1. Khái quát chung về khái niệm ly hôn | 5 |
| 1.2. Các trường hợp ly hôn theo luật định | 6 |
| 1.2.1 Thuận tình ly hôn | 6 |
| 1.2.2. Ly hôn theo yêu cầu của một bên | 7 |
| 1.3. Đặc trưng của chế định ly hôn trong luật việt nam hiện hành | 8 |
| 1.3.1. Trong ly hôn có yếu tố lỗi | 8 |
| 1.3.2. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em | 9 |
| CHƯƠNG 2: HẠN CHẾ QUYỀN LY HÔN THEO PHÁP LUẬT | 10 |
| 2.1. Quyền ly hôn theo pháp luật hiện hành | 10 |
| 2.1.1. Khái niệm quyền yêu cầu ly hôn | 10 |
| 2.1.2. Nội dung quyền yêu cầu ly hôn theo Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 | 11 |
| 2.2. Hạn chế quyền ly hôn theo pháp luật hiện hành | 14 |
| 2.2.1. Khái niệm hạn chế quyền ly hôn | 14 |
| 2.2.2. Nội dung hạn chế quyền ly hôn trong pháp luật hiện hành | 16 |
| 2.2.3. Ý nghĩa của hạn chế quyền ly hôn | 17 |
| CHƯƠNG 3: THỰC TẾ THỰC HIỆN HẠN CHẾ QUYỀN LY HÔN VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ QUYỀN LY HÔN | 19 |
| 3.1. Thực tế thực hiện hạn chế quyền ly hôn tại một số địa phương | 19 |
| 3.1.1. Một số vụ án ly hôn liên quan đến hạn chế quyền ly hôn | 19 |
| 3.1.2. Đánh giá tính thực thi và hạn chế của hạn chế quyền ly hôn theo Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 | 21 |
| 3.2. Một số ý kiến hoàn thiện pháp luật về hạn chế quyền ly hôn theo Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 | 23 |
| KẾT LUẬN | 28 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 29 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hôn nhân và gia đình là những hiện tượng xã hội phát sinh trong quá trình phát triển của con người. Với mục đích ban đầu nhằm duy trì và phát triển nòi giống, dần dần sự chung sống giữa nam và nữ được pháp luật thừa nhận với ý nghĩa cao cả hơn hết là xây dựng gia đình. Kết hôn chính là bước khởi đầu để hình thành nên một gia đình. Hôn nhân không chỉ mang giá trị trong mối quan hệ tình yêu giữa nam và nữ mà còn có ý nghĩa đối với sự phát triển của đất nước. Xây dựng gia đình hạnh phúc là kim chỉ nam quan trọng cho đường lối của Đảng và Nhà nước ta qua bao giai đoạn lịch sử. Bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tại Hội nghị cán bộ thảo luận Dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình vào tháng 10 – 1959: “Quan tâm đến gia đình là đúng, vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn, hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì vậy, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội là phải chú ý hạt nhân cho tốt”[1].
Trong guồng quay của cuộc sống hiện đại, xuất phát từ nhiều nguyên nhân, mối quan hệ giữa con người với nhau ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp, đặc biệt là quan hệ hôn nhân. Khi nam và nữ tiến đến hôn nhân, họ mong muốn có thể cùng nhau nắm tay trải qua những thăng trầm của cuộc đời, cùng nhau tạo dựng một gia đình nhỏ hạnh phúc to. Tuy nhiên, không phải cuộc hôn nhân nào cũng được hạnh phúc, viên mãn. Khi xảy ra quá nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết, thì người ta chọn cách ly hôn để tìm lối thoát cho cả hai nên pháp luật về Hôn nhân và gia đình đã có những điều khoản quy định về việc kết hôn thì cũng quy định thêm những điều khoản về quyền yêu cầu ly hôn để chấm dứt quan hệ hôn nhân. Đặc biệt, để bảo vệ quyền và lợi ích của phái yếu trong xã hội là phụ nữ và trẻ em thì pháp luật về Hôn nhân và gia đình cũng đã có những quy định riêng quy định về hạn chế quyền ly hôn.
Bài tiểu luận của em với tên đề tài “Hạn chế quyền ly hôn: Pháp luật và thực tiễn” nhằm tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của hạn chế quyền ly hôn trong hôn nhân ngày nay, hướng xử lý bằng hạn chế quyền ly hôn được quy định cụ thể trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Qua đó, giúp mọi người có cái nhìn chính xác và toàn diện hơn về vấn đề hạn chế quyền ly hôn trong hôn nhân và những ý nghĩa to lớn của hạn chế quyền ly hôn trong việc bảo vệ phụ nữ và trẻ em.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài trong nước và ngoài nước liên quan đến đề tài
Những năm gần đây, tình trạng ly hôn ngày một gia tăng, năm sau cao hơn năm trước, trong đó phần lớn là giới trẻ. Điều đó đã gióng lên hồi chuông cảnh báo trong toàn xã hội, không chỉ riêng ở Việt Nam mà là trên toàn thế giới. Tính cho đến nay, có một số công trình nghiên cứu đề cập đến hạn chế quyền ly hôn như “Quyền yêu cầu ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014” của T.S Ngô Thị Hường, Tạp chí luật học số 12 năm 2015. Hay “Quyền yêu cầu ly hôn theo Luật Hôn nhân gia đình năm 2014” luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Thị Huyền Trang, Trường đại học Luật Hà Nội.
Ngoài ra còn có một số bài báo, tạp chí chuyên ngành được đăng tải trên các Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, Báo Lao động… đề cập đến hạn chế quyền yêu cầu ly hôn.
Tuy nhiên, các luận văn trên cũng chỉ đề cập chuyên sâu đến quyền yêu cầu ly hôn rồi sau mới đề cập sơ bộ hạn chế quyền ly. Có thể nói chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào đi sâu vào phân tích, đánh giá về lý luận cũng như thực tiễn hạn chế quyền yêu cầu ly hôn theo Luật HNGĐ năm 2014.
3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Nhằm làm rõ các vấn đề lý luận về hạn chế quyền ly hôn như khái niệm, các yếu tố dẫn đến hạn chế quyền ly hôn trong lĩnh vực HNGĐ. Từ đó nêu ra những bất cập cũng như kiến nghị phương thức giải quyết hợp lý, có khả năng thi hành, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.
4. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Nhìn nhận bao quát đề tài dưới nhiều góc độ khác nhau từ lý luận cho đến thực tiễn nhưng sẽ tập trung vào các quy định trong pháp luật Việt Nam hiện hành về hạn chế quyền ly hôn trong hôn nhân, chủ yếu là Luật HNGĐ 2014.
Phương pháp nghiên cứu: Tập trung sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết cụ thể như phương pháp khái quát, phân tích và tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa lý thuyết. Dựa trên nền tảng và xuất phát điểm là các tri thức lý luận (các quan điểm, lý thuyết), từ đó đi sâu vào bản chất của vấn đề cần nghiên cứu để có cái nhìn toàn diện, bao quát đối với thực tiễn cuộc sống.
5. Cấu trúc của đề tài
Qua việc nghiên cứu các vấn đề được đặt ra, bài tiểu luận đã thể hiện một cách chi tiết về ly hôn, quyền yêu cầu ly hôn và trọng tâm là hạn chế quyền ly hôn trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Từ đó nêu ra những bất cập, thiếu sót khi áp dụng pháp luật cho tình huống thực tiễn, nhằm đề xuất phương hướng hoàn thiện Luật HNGĐ góp phần nâng cao nhận thức, sự hiểu biết của mỗi người trong quy định về hạn chế quyền ly hôn. Hạn chế quyền ly hôn góp phần to lớn trong công cuộc bảo vệ người phụ nữ và trẻ em khi ly hôn xảy ra.
Nội dung của bài tiểu luận gồm 3 chương (không tính Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo):
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về ly hôn
Chương 2: Cơ chế pháp lý hạn chế quyền ly hôn hiện nay theo Luật Hôn nhân gia đinh năm 2014
Chương 3: Thực tiễn thực hiện hạn chế quyền ly hôn và hoàn thiện pháp luật về hạn chế quyền ly hôn.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LY HÔN
1.1. Khái quát chung về khái niệm ly hôn
Khi tiến tới hôn nhân, con người luôn đặt niềm tin rằng nó sẽ tồn tại lâu dài, bền vững vì nó được xác lập trên bởi tình yêu thương, liên kết giữa hai vợ chồng. Nhưng trong cuộc sống vợ chồng, vì nhiều lý do khác nhau mà dẫn tới vợ chồng có những mâu thuẫn sâu sắc đến mức họ không thể hàn gắn để chung sống với nhau nữa và ly hôn là giải pháp cuối cùng được đặt ra để giải phóng cho cả hai có những lối đi riêng.
Theo Lênin: “Thực ra tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm “tan rã” những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó cũng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh”[2]. Ly hôn là hiện tượng xã hội, chịu sự chi phối và bị quy định bởi các điều kiện kinh tế – xã hội nhất định.
Pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đã công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ, chồng, không cấm hoặc đặt ra những điều kiện hạn chế quyền tự do ly hôn của hai vợ chồng. Ly hôn dựa theo sự tự nguyện của vợ chồng, nó là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình. Nhà nước bằng pháp luật không thể cưỡng ép nam, nữ phải yêu nhau và kết hôn với nhau, phải duy trì quan hệ hôn nhân khi tình cảm yêu thương gắn bó giữa họ đã kết thúc và mục đích của hôn nhân không thể đạt được. Việc giải quyết ly hôn là điều tất yếu nếu hôn nhân thực sự tan vỡ.
Dưới góc độ pháp luật, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân khi hai bên chủ thể của quan hệ còn sống do một bên yêu cầu hoặc cả hai bên thuận tình, được tòa án công nhận bằng bản án xử cho ly hôn hoặc bằng quyết định thuận tình ly hôn.
Cụ thể, Luật HNGĐ 2014 cũng đã quy định: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”[3].
Tòa án là cơ quan nhà nước duy nhất có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn. Điều này chứng tỏ là việc ly hôn của vợ chồng, dù mang ý nghĩa riêng tư nhưng phải đặt dưới sự kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng của mỗi thành viên trong gia đình, bảo vệ lợi ích của xã hội và của Nhà nước[4].
1.2. Các trường hợp ly hôn theo luật định
Căn cứ để ly hôn là những quy định của pháp luật trong đó xác định rõ các điều kiện mà Tòa án phải căn cứ vào các điều kiện này trong quá trình giải quyết việc ly hôn của vợ chồng. Căn cứ ly hôn là cơ sở pháp lý, thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước trong việc đưa ra các điều kiện ly hôn, chỉ khi có các điều kiện đó thì Tòa án mới có thể giải quyết ly hôn.
Tuy nhiên, trong Luật HNGĐ năm 2000 thì có quy định riêng về căn cứ ly hôn, nhưng Luật HNGĐ năm 2014 không quy định căn cứ ly hôn thành một điều luật mà quy định thành hai trường hợp ly hôn: Thuận tình ly hôn và ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ, chồng dựa trên những trình tự, thủ tục thực hiện khác biệt trong quá trình tố tụng vụ án…
[1] Hồ Chí Minh toàn tập, 2011.
[2] Theo V.I Lênin – Toàn tập, Tập 25, Nxb Tiến Bộ, Maxcova, 1980, Tr. 355.
[3] Khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Tái bán có sửa đổi, bổ sung), Nhà Xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Tr. 423.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/han-che-quyen-ly-hon-phap-luat-va-thuc-tien/
[xyz-ihs snippet=”B0192″]
