THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 40 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0097.
- Văn bản áp dụng: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG CỨ, NGUỒN CỦA CHỨNG CỨ VÀ THU THẬP, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LAO ĐỘNG | 4 |
| 1.1. Khái niệm về chứng cứ, nguồn của chứng cứ và việc thu thập, đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự | 4 |
| 1.1.1. Khái niệm chứng cứ | 4 |
| 1.1.2. Nguồn chứng cứ | 4 |
| 1.1.3. Xác định chứng cứ | 4 |
| 1.1.4. Đánh giá chứng cứ | 6 |
| 1.2. Thu thập, đánh giá chứng cứ | 6 |
| 1.2.1. Khái niệm thu thập, đánh giá chứng cứ | 6 |
| 1.2.2. Các hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án | 7 |
| 1.3. Đặc điểm hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong Tố tụng Dân sự | 8 |
| 1.3.1. Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong Tố tụng dân sự là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước | 8 |
| 1.3.2. Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hoặc Hội đồng xét xử tiến hành | 8 |
| 1.3.3. Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nhằm hỗ trợ đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh và bảo đảm cho việc giải quyết vụ án dân sự được chính xác, khách quan | 9 |
| 1.3.4. Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định | 9 |
| 1.4. Ý nghĩa của việc thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong việc giải quyết vụ án | 10 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 | 11 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KỸ NĂNG THU THẬP VÀ ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LAO ĐỘNG | 12 |
| 2.1. Kỹ năng thu thập chứng cứ của Thẩm phán | 12 |
| 2.1.1. Thông báo về việc thụ lý vụ án; yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập | 13 |
| 2.1.2. Xác định các tài liệu, chứng cứ làm rõ vấn đề về tố tụng và các tài liệu, chứng cứ giải quyết nội dung vụ án | 13 |
| 2.1.3. Hướng dẫn đương sự cung cấp bổ sung chứng cứ để thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình | 15 |
| 2.1.4. Thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự | 16 |
| 2.2. Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ | 22 |
| 2.2.1. Trước khi tiến hành phiên họp | 23 |
| 2.2.2. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ | 23 |
| 2.2.3. Sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ | 23 |
| 2.3. Yêu cầu và phương pháp đánh giá chứng cứ trong việc giải quyết vụ án lao động | 23 |
| 2.3.1. Yêu cầu khi đánh giá chứng cứ | 23 |
| 2.3.2. Phương pháp đánh giá chứng cứ | 24 |
| 2.4. Thực tiễn về kỹ năng thu thập và đánh giá chứng cứ trong vụ án lao động của Thẩm phán Tòa án nhân dân Quận 9 và một số sai sót thường gặp trong hoạt động thu thập và đánh giá chứng cứ | 26 |
| 2.5. Một số vướng mắc trong thực tiễn | 30 |
| 2.5.1. Về việc yêu cầu đương sự thực hiện nghĩa vụ sao gửi tài liệu chứng cứ cho đương sự khác trong vụ án | 30 |
| 2.5.2. Việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ | 30 |
| 2.5.3. Thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ | 31 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 | 32 |
| CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT | 33 |
| TÀI LIỆU THAM KHẢO | 36 |
LỜI MỞ ĐẦU
Thu thập và đánh giá chứng cứ là một kỹ năng quan trọng trong quá trình giải quyết các loại vụ án dân sự nói chung và vụ án lao động nói riêng. Hoạt động này được tiến hành trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Về nguyên tắc đương sự khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp, Tòa án có trách nhiệm xem xét các tình tiết của vụ án, căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên trong thực tế khả năng thu thập chứng cứ và chứng minh của đương sự là còn hạn chế. Do đó, khi xét thấy các tài liệu chứng cứ do đương sự cung chưa đầy đủ cơ sở để giải quyết vụ án hoặc đương sự không thể cung cấp được tài liệu chứng cứ cần thiết thì theo quy định của pháp luật Thẩm phán sẽ tiến hành một số biện pháp thu thập chứng cứ. Sau khi đã thu thập được chứng cứ, Thẩm phán sẽ tiến hành hoạt động nghiên cứu và đánh giá chứng cứ. Đây là hoạt động mang tính trí tuệ, để việc đánh giá chứng cứ đạt hiệu quả cao, chính xác thì đòi hỏi Thẩm phán phải có kinh nghiệm, sự am hiểu pháp luật và năng lực chuyên môn tốt. Việc đánh giá phải nghiêm túc các chứng cứ được đánh giá phải đặt trong mối quan hệ tổng thể với các chứng cứ khác và các tình tiết có trong hồ sơ vụ án.
Các hoạt động thu thập và đánh giá chứng cứ của Tòa án được quy định từ Điều 97 đến Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. So với quy định của pháp luật về việc thu thập và đánh giá chứng cứ trước đây thì Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã quy định về trình tự, thủ tục thu thập và đánh giá chứng cứ rõ ràng hơn, đầy đủ và hoàn thiện hơn tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho Tòa án trong việc giải quyết vụ án.
Khi xã hội ngày càng phát triển, các quan hệ lao động, giao dịch dân sự cũng phát triển theo. Nhiều quan hệ lao động được thực hiện thì kéo theo tranh chấp về lao động cũng xảy ra nhiều hơn. Tranh chấp lao động phát sinh khi người lao động và người sử dụng lao động có sự mâu thuẫn về lợi ích của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động.
Theo quy định pháp luật thì mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động là bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, tuy nhiên trong thực tế người sử dụng lao động bao giờ cũng ở thế mạnh hơn người lao động bởi người sử dụng lao động là người trực tiếp trả lương cho người lao động và trả lương cho cả tập thể bảo vệ người lao động (công đoàn) nên trong một giới hạn nào đó người lao động luôn ở thế chủ động trong quan hệ lao động. Chính vì sự thiếu bình đẳng đó mà khi phát sinh tranh chấp các chủ thể tham gia vào hoạt động tố tụng tại Tòa án thì nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ cho Tòa án cũng khác so với các đương sự trong quan hệ pháp luật dân sự. Trong vụ án lao động có khi người lao động là nguyên đơn khởi kiện vụ án nhưng nghĩa vụ chứng minh lại thuộc về người sử dụng lao động (bị đơn). Do có sự khác biệt đó, mà hoạt động thu thập và đánh giá chứng cứ trong vụ án lao động cũng có nhiều điểm khác so với vụ án dân sự, kinh doanh thương mại….Hoạt động thu thập chứng cứ và đánh giá chứng cứ trong vụ án lao động thể hiện xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án và là vấn đề cốt lõi của nguyên tắc tranh tụng
Việc thu thập và đánh giá chứng cứ trong các vụ án lao động tại Tòa án tuy đảm bảo đúng các quy định của pháp luật nhằm giải quyết nhanh chóng các vụ án lao động đang có xu hướng ngày càng gia tăng trong xã hội. Tuy nhiên, trên thực tiễn vẫn còn khá nhiều vướng mắc, sai sót trong quá trình áp dụng các quy định liên quan đến kỹ năng thu thập và đánh giá chứng cứ. Trong đó, nguyên nhân khách quan là do các quy định của pháp luật còn nhiều vấn đề chưa được rõ ràng, nhất là chưa có chế tài đối với các đương sự không thực hiện nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ cho đương sự khác trong vụ án hoặc các cơ quan, tổ chức không thực hiện việc cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án hoặc thời gian cung cấp tài liệu chứng cứ quá lâu ảnh hưởng đến thời gian giải quyết vụ án; Nguyên nhân chủ quan là do các Thẩm phán còn lúng túng trong việc xác định các chứng cứ cần thiết phải thu thập để giải quyết vụ án nên thu thập còn thiếu những chứng cứ quan trọng, có những chứng cứ quan trọng thì chưa thu thập và đánh giá một cách chính xác nhưng cũng có những chứng Thẩm phán rất khó khăn mới thu thập được lại không có giá trị chứng minh trong việc giải quyết vụ án, mặt khác khi thu thập được chứng cứ thì kỹ năng nghiên cứu và đánh giá chứng cứ của Thẩm phán còn hạn chế nên việc đánh giá chứng cứ chưa đảm bảo khách quan, toàn diện. Điều đó là nguyên nhân khiến cho các vụ án lao động bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán mà cụ thể là việc thu thập tài liệu chứng cứ không đầy đủ, đánh giá chứng cứ không đúng hoặc việc thu thập chứng cứ gặp nhiều khó khăn dẫn đến tình trang vụ án bị quá thời hạn xét xử, tạm đình chỉ vì chờ kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ trong thời gian qua có xu hướng ngày càng tăng.
Với mục đích phân tích thực tiễn kỹ năng thu thập và đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự để giải quyết tranh chấp lao động, tìm ra các vấn đề vướng mắc, sai sót trong thực tiễn áp dụng pháp luật và kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án lao động trong Tòa án nhân dân, tác giả chọn đề tài: “Kỹ năng thu thập và đánh giá chứng cứ trong việc giải quyết vụ án lao động” làm tiểu luận cho khóa học. Bố cục của tiểu luận gồm 03 phần:
Phần 1: Lời nói đầu.
Phần 2: Phần nội dung gồm có 02 mục:
Một số vấn đề lý luận về chứng cứ, nguồn của chứng cứ và thu thập, đánh giá chứng cứ trong việc giải quyết các vụ án lao động.
Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về kỹ năng thu thập và đánh giá chứng cứ trong việc giải quyết vụ án lao động tại Tòa án.
Phần 3: Kết luận và kiến nghị.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG CỨ, NGUỒN CỦA CHỨNG CỨ VÀ THU THẬP, ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LAO ĐỘNG
1.1. Khái niệm về chứng cứ, nguồn của chứng cứ và việc thu thập, đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự
1.1.1. Khái niệm chứng cứ
Điều 93 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (sau đây gọi tắt là BLTTDS năm 2015) quy định: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”.
1.1.2. Nguồn chứng cứ
Theo quy định tại Điều 94 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:
“1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử.
- Vật chứng.
- Lời khai của đương sự.
- Lời khai của người làm chứng.
- Kết luận giám định.
- Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ.
- Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản.
- Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập.
- Văn bản công chứng, chứng thực.
- Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.”.
1.1.3. Xác định chứng cứ
Theo quy định tại Điều 95 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
“1. Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.
- Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.
- Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
- Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc.
- Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa.
- Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
- Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
- Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
- Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
- Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
- Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định.”.
1.1.4. Đánh giá chứng cứ
Theo Điều 108 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, quy định về đánh giá chứng cứ:
“1. Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác.
- Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ, sự liên quan giữa các chứng cứ và khẳng định tính hợp pháp, tính liên quan, giá trị chứng minh của từng chứng cứ”.
1.2. Thu thập, đánh giá chứng cứ
1.2.1. Khái niệm thu thập, đánh giá chứng cứ
Theo từ điển Tiếng Việt thì thu thập có nghĩa là tìm kiếm, góp nhặt và tập hợp lại.
Do đó, thu thập chứng cứ là việc phát hiện tìm ra các chứng cứ, tập hợp, đưa vào hồ sơ vụ việc để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng các chứng cứ đã thu thâp được để giải quyết vụ việc dân sự đúng quy định pháp luật.
Thuật ngữ “đánh giá” trong Đại từ điển tiếng Việt được giải thích là “nhận định giá trị”. Do đó, đánh giá chứng cứ được hiểu là nhận định giá trị chứng minh của chứng cứ có sử dụng được vào việc giải quyết vụ án hay không. Thực tế kết quả giải quyết vụ án và việc đánh giá chứng cứ phụ thuộc vào năng lực, trình độ của Thẩm phán.
Hoạt động thu thập và đánh giá chứng cứ được thực hiện trong suốt quá trình chứng minh, khi thu thập được chứng cứ người ta tiến hành đánh giá chứng cứ và từ việc đánh giá chứng cứ vừa thu thập được để xác định các chứng cứ tiếp theo cần phải thu thập. Do đó, hoạt động thu thập và đánh giá chứng cứ là hai hoạt động gắn liền với nhau, hoạt động này là tiền đề để thực hiện hoạt động kia. Đánh giá chứng cứ là quá trình xác định giá trị chứng minh của chứng cứ và tính hiệu quả của chứng cứ trong tổng thể các chứng cứ. Để xác định được giá trị chứng minh của chứng cứ thì Tòa án phải đánh giá chứng cứ. Việc đánh giá chứng cứ được Thẩm phán phụ trách việc giải quyết vụ án tiến hành trước phiên tòa và các thành viên của Hội đồng xét xử tiến hành tại phiên tòa. Tóm lại có thể xem đánh giá chứng cứ là một quá trình tư duy logic, là hoạt động suy luận dựa trên các quy định pháp luật về chứng cứ, các thuộc tính của chứng cứ và cơ sở nhận thức của người đánh giá về đối tượng chứng cứ cần đánh giá để xác định giá trị chứng minh của chứng cứ nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.
1.2.2. Các hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án
Theo quy định của pháp luật đương sự yêu cầu phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, do vậy các đương sự phải tự thu thập các chứng cứ để cung cấp cho Tòa án, Tòa án sẽ căn cứ vào quy định của pháp luật và các tình tiết có trong hồ sơ vụ án để đánh giá các chứng cứ nhằm xác định giá trị chứng minh để giải quyết yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên khi xét thấy các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp không đủ cơ sở để giải quyết vụ án hoặc khi đương sự yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ thì Tòa án sẽ tiến hành thu thập thêm các tài liệu chứng cứ để phục vụ cho việc giải quyết vụ án.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 97 BLTTDS 2015 thì Tòa án tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ như sau: Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ:
a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;
b) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng;
c) Trưng cầu giám định;
d) Định giá tài sản;
đ) Xem xét, thẩm định tại chỗ;
e) Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ;
g) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự;
h) Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú;
i) Các biện pháp khác theo quy định của Bộ luật này.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0097″]
