
- Trường học: Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
- Điểm số: 9.00 điểm
- Số trang: 22 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B1082 | Năm 2026
XEM TRƯỚC NỘI DUNG TIỂU LUẬN
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

XEM TRƯỚC MỤC LỤC

MỤC LỤC TIỂU LUẬN CHI TIẾT
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1. LỊCH SỬ LẬP HIẾN VIỆT NAM | 2 |
| 1.1. Hiến pháp năm 1946 | 2 |
| 1.2. Hiến pháp năm 1959 | 3 |
| 1.3. Hiến pháp năm 1980 | 4 |
| 1.4. Hiến pháp năm 1992 | 5 |
| 1.5. Hiến pháp năm 2013 | 7 |
| CHƯƠNG 2. BẢO VỆ HIẾN PHÁP VÀ CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP CỦA VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ | 10 |
| 2.1. Vai trò của việc bảo vệ Hiến pháp | 10 |
| 2.2. Nội dung của bảo vệ Hiến pháp | 11 |
| 2.3. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp của Việt Nam qua các thời kỳ | 12 |
| 2.3.1. Hiến pháp năm 1946 | 12 |
| 2.3.2. Hiến pháp năm 1959 | 13 |
| 2.3.3. Hiến pháp năm 1980 | 15 |
| 2.3.4. Hiến pháp năm 1992 | 15 |
| 2.3.5. Hiến pháp năm 2013 | 16 |
| 2.4. Giải pháp nâng cao trách nhiệm của Nhà nước trong thi hành và bảo vệ Hiến pháp | 17 |
| KẾT LUẬN | 20 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 22 |
LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời cho đến nay, nước ta đã ban hành năm bản Hiến pháp, đó là Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001), Hiến pháp năm 2013. Các bản Hiến pháp này đều ra đời trong những hoàn cảnh thời điểm lịch sử nhất định nhằm thể chế hóa quan điểm, đường lối, chủ trương cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam cho từng giai đoạn phát triển của đất nước. Hiến pháp là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý đặc biệt quan trọng, là đạo luật cơ bản, luật gốc của Nhà nước làm căn cứ ban hành các văn bản pháp luật trong hệ thống pháp luật, thể hiện rõ nét bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước. Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ luôn xác định những vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất của Nhà nước và xã hội, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nội dung trong Hiến pháp là bản tổng kết những thành quả của cách mạng, vừa đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo như bản chất nhà nước, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa xã hội; quyền con người.
Vấn đề bảo vệ Hiến pháp, bảo đảm sự tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và xử lý các hành vi vi phạm Hiến pháp là một nội dung quan trọng của xây dựng nhà nước pháp quyền ở các nước trên thế giới do đó em xin chọn vấn đề nghiên cứu về “Lịch sử lập Hiến của Việt Nam và các cơ chế bảo vệ Hiến pháp của Việt Nam” để làm Tiểu luận môn Luật Hiến pháp – lịch sử và đương đại.
CHƯƠNG 1. LỊCH SỬ LẬP HIẾN VIỆT NAM
Theo dòng lịch sử lập hiến của nước ta, kể từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay, nước ta đã có 05 bản Hiến pháp, đó là Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001), Hiến pháp năm 2013. Các bản Hiến pháp này đều ra đời trong những bối cảnh và ở những thời điểm lịch sử nhất định nhằm thể chế hóa đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam cho mỗi giai đoạn phát triển của đất nước.
1.1. Hiến pháp năm 1946
Sau khi đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” ngày 2/9/1945, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 03/9/1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định việc xây dựng một bản hiến pháp dân chủ là một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ. Người nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”. Ngày 20/9/1945, Chính phủ lâm thời ra sắc lệnh thành lập Ban dự thảo hiến pháp gồm 7 người, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Tháng 11/1945, Ban dự thảo đã hoàn thành công việc và Bản dự thảo được công bố cho toàn dân thảo luận. Hàng triệu người Việt Nam hăng hái tham gia đóng góp ý kiến cho Bản dự thảo với những nội dung mơ ước bao đời của bản thân về độc lập, tự do. Ngày 2/3/1946, trên cơ sở Ban dự thảo hiến pháp của Chính phủ, Quốc hội khóa I đã thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 người, đại diện cho nhiều tổ chức, đảng phái khác nhau do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Ban dự thảo có nhiệm vụ tổng kết các ý kiến tham gia đóng góp của nhân dân và xây dựng Bản dự thảo cuối cùng để đưa ra Quốc hội xem xét, thông qua. Ngày 9/11/1946, tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta với 240 phiếu thuận, 2 phiếu chống. Hiến pháp được thông qua đã đánh dấu sự cáo chung của nền thống trị ngoại bang, tuyên bố nước Việt Nam độc lập từ Bắc đến Nam, theo chế độ dân chủ nhân dân, quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo; các quyền tự do dân chủ được đảm bảo…
Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh (10 ngày sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ) bản Hiến pháp năm 1946 không được chính thức công bố, nhưng dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần của các quy định trong Hiến pháp năm 1946 đã được thực hiện trên thực tế căn cứ vào tình hình cụ thể.
1.2. Hiến pháp năm 1959
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục đấu tranh để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Hiến pháp năm 1946 đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình, nhưng so với tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới cần được bổ sung, thay đổi…
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tài liệu giảng dạy môn Luật Hiến pháp – Lịch sử và đương đại của Viện Nhà nước và Pháp luật;
- Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1990, 2013;
- GS.TS Nguyễn Đăng Dung, Hiến pháp, phương thức quan trọng nhất để hạn chế quyền lực nhà nước, NXB Đại học quốc gia Hà Nội;
- Bài viết: https://www.quanlynhanuoc.vn/2020/07/02/bao-ve-hien-phap-bang-phap-luat-tai-viet-nam/.
