• Trang chủ
  • Tiểu luận miễn phí
  • Bảng phí viết mới tiểu luận
  • Liên hệ Facebook
Tiểu luận ngành Luật

Tiểu Luận Ngành Luật

Chuyên trang tiểu luận, khóa luận, luận văn ngành luật

  • Hướng dẫn tải TÀI LIỆU
  • Danh mục môn học

Trang chủ: » Kho tiểu luận

[Tiểu luận 2025] Phân tích Quyền sống theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

 [Tiểu luận 2025] Phân tích Quyền sống theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

    THÔNG TIN TIỂU LUẬN

    • Trường: Đại học Luật Hà Nội
    • Định dạng: WORD
    • Số trang: 07 trang (Không bao gồm bìa, Mục lục)
    • Năm: 2025 / Mã số: B0513.

    XEM TRƯỚC NỘI DUNG

    phan tich quyen song theo phap luat quoc te va phap luat viet nam 1 phan tich quyen song theo phap luat quoc te va phap luat viet nam 2

    MỤC LỤC TIỂU LUẬN

    MỤC LỤCTrang
    NỘI DUNG01
    1. Quyền sống trong pháp luật quốc tế01
    2. Quyền sống trong pháp luật Việt Nam03-07

    TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!

    Mục lục:

    Toggle
    • THÔNG TIN TIỂU LUẬN
    • XEM TRƯỚC NỘI DUNG
    • MỤC LỤC TIỂU LUẬN
    • LỜI MỞ ĐẦU
    • 1. Quyền sống trong pháp luật quốc tế
    • 2. Quyền sống trong pháp luật Việt Nam
    • TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG

    Bấm thanh toán & Tải về: 20.000 VNĐ (.docx)


    label

    LỜI MỞ ĐẦU

    Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Và Quyền sống (the right to life) là một quyền tự nhiên, cơ bản của con người được ghi nhận trong các văn kiện cốt lõi của luật nhân quyền quốc tế và pháp luật quốc gia. “Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống. Quyền này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tuỳ tiện”. Quyền sống là quyền tuyệt đối, cơ bản, quan trọng nhất đối với con người và đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý ở nhiều cấp độ.

    1. Quyền sống trong pháp luật quốc tế

    Quyền sống (the right to life) là một quyền tự nhiên, cơ bản của con người được ghi nhận trong các văn kiện cốt lõi của luật nhân quyền quốc tế. Quyền sống đầu tiên được đề cập trong Điều 3 UDHR. Cụ thể, Điều 3 Tuyên ngôn Toàn thế giới về nhân quyền (UDHR) năm 1948 nêu rằng: “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân”. Điều 6 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) cụ thể hóa Điều 3 UDHR, trong đó nêu rằng: “Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống. Quyền này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tuỳ tiện” (Khoản 1).

    Bên cạnh ICCPR, một số công ước quốc tế khác về quyền con người cũng đề cập đến quyền sống, trong đó bao gồm Công ước về quyền trẻ em, Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng, Công ước về trấn áp và trừng trị tội ác a-pác-thai….

    Đặc điểm, tính chất và nội hàm của quyền sống đã được Ủy ban Nhân quyền (Human Rights Committee – HRC – cơ quan được lập ra theo ICCPR để giám sát việc thực hiện công ước này của các quốc gia thành viên) đề cập trong Bình luận chung số 6 (thông qua tại phiên họp lần thứ 16 năm 1982), có thể tóm tắt những điểm quan trọng như sau:

    Quyền sống là “một quyền tối cao (supreme right) của con người mà trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia, cũng không thể bị tạm đình chỉ (derogation) việc thực hiện…” (đoạn 1).

    Quyền sống không nên hiểu theo nghĩa hẹp chỉ là sự toàn vẹn về tính mạng mà hơn thế, quyền này bao gồm cả những khía cạnh nhằm bảo đảm sự tồn tại của con người. Theo cách tiếp cận đó, việc bảo đảm quyền sống còn đòi hỏi các quốc gia phải thực thi những biện pháp để làm giảm tỉ lệ chết ở trẻ em và tăng tuổi thọ bình quân của người dân, cụ thể như các biện pháp nhằm xóa bỏ tình trạng suy dinh dưỡng và các dịch bệnh… (đoạn 2), tức là bao gồm cả các biện pháp thụ động và chủ động để bảo đảm cuộc sống của người dân, đặc biệt là của những cá nhân và nhóm yếu thế.

    Một trong các nguy cơ phổ biến đe dọa quyền sống là chiến tranh và các tội phạm nghiêm trọng như diệt chủng hay tội phạm chống nhân loại. Vì vậy, việc chống chiến tranh và các tội phạm này cũng là sự bảo đảm quyền sống. Theo cách tiếp cận đó, việc bảo đảm quyền sống trong Điều 6 có mối liên hệ với nghĩa vụ cấm các hoạt động tuyên truyền chiến tranh và kích động hận thù, bạo lực nêu ở Điều 20 ICCPR (đoạn 3).

    Phòng chống những hành động tội phạm gây nguy hại hoặc tước đoạt tính mạng con người là biện pháp quan trọng để bảo đảm quyền sống. Các quốc gia thành viên cần tiến hành các biện pháp phòng chống và trừng trị việc tuỳ tiện tước đoạt tính mạng con người do bất kỳ chủ thể nào gây ra, kể cả do các cơ quan và viên chức nhà nước (đoạn 5). Liên quan đến vấn đề này, việc bắt cóc người và đưa đi mất tích cũng bị coi là một trong những hình thức tước đoạt quyền sống, do đó, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ đưa ra những biện pháp và kế hoạch hiệu quả để phòng chống và điều tra các vụ việc dạng này (đoạn 4).

    Cũng liên quan đến quyền sống, ngoài Bình luận chung số 6, HRC còn thông qua Bình luận chung số 14 (phiên họp lần thứ 23 năm 1984) trong đó tái khẳng định tầm quan trọng của quyền sống, coi đó là cơ sở cho tất cả các quyền con người, đồng thời nhắc lại yêu cầu phải thực hiện Điều 6 của ICCPR trong mọi hoàn cảnh. Văn bản này nhấn mạnh rằng chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh hạt nhân, là nguy cơ lớn nhất đe dọa quyền sống và yêu cầu các quốc gia hạn chế và chấm dứt các cuộc chạy đua vũ trang, đặc biệt là không thiết kế, thử nghiệm, chế tạo, tàng trữ, triển khai và sử dụng các loại vũ khí hạt nhân – những hành vi mà theo HRC cần bị coi là phạm tội ác chống nhân loại.

    2. Quyền sống trong pháp luật Việt Nam

    Ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ quyền sống đã được đề cập trong những đạo luật của các triều đại phong kiến, tiêu biểu như Quốc triều Hình Luật (Hậu Lê), Bộ luật Gia Long (Nguyễn)… thông qua những quy định nhằm ngăn ngừa và trừng trị những hành vi tuỳ tiện tước bỏ tính mạng của con người. Trong thời hiện đại, quyền sống theo nghĩa rộng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định ngay trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, thông qua việc nhắc lại tuyên bố về quyền này trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Sau đó, các văn bản pháp luật chuyên ngành, đặc biệt là các văn bản pháp luật hình sự, đã có những quy định về bảo vệ tính mạng của con người khỏi bị xâm hại một cách trái pháp luật. Tuy nhiên, trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và trong các đạo luật chuyên ngành trước đây, quyền sống không được đề cập như một quyền cụ thể, mà chỉ được thể hiện thông qua các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân.

    Chỉ đến Hiến pháp năm 2013 quyền này mới được nêu trực tiếp trong Điều 19 và được gắn với sự bảo hộ pháp lý về tính mạng: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bi tước đoạt tính mạng trái pháp luật”.

    Mặt khác, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 cũng quy định:“1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. 2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.

    Bên cạnh đó, Điều 48 Hiến pháp năm 2013 quy định:“Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; được bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích chính đáng theo pháp luật Việt Nam”.

    Có thể thấy, quyền sống quy định trong Hiến pháp năm 2013 đồng nghĩa với việc ràng buộc nghĩa vụ của Nhà nước phải bảo vệ sự sống của con người mọi lúc, mọi nơi và chỉ có thể bị hạn chế trong một số trường hợp cần thiết theo Luật định.

    Mặt khác, tại Bộ luật Dân sự – điều chỉnh các mối quan hệ dân sự trong đời sống hằng ngày cũng đã quy định về quyền sống tại Điều 33 Bộ luật dân sự 2015 quy định về Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể: “1. Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật  ”

    Không chỉ dừng lại ở đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng có những quy định cụ thể về quyền sống như sau:

    Khoản 1 Điều 40 quy định:“Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định”.

    Có thể thấy, điều khoản trên đã cụ thể hóa những trường hợp phạm tội có thể phải chịu án tử hình – tức là tước đi mạng sống con người, ngoài những trường hợp nêu trên, tổ chức, cá nhân phạm tội mà gây thiệt hại đến tính mạng con người thì chịu những chế tài tương ứng, cụ thể:

    Điều 78, 79, 80 quy định đình chỉ hoạt động có thời hạn; đình chỉ hoạt động vĩnh viễn và cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định đối với Pháp nhân thương mại phạm tội, theo đó, trong một số lĩnh vực, nếu mức độ phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng con người thì sẽ bị áp dụng các biện pháp nêu trên.

    Khoản 1 Điều 113 quy định: “Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc người khác hoặc phá hủy tài sản của Cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình”.

    Từ Điều 123 đến 133 quy định về các tội phạm xâm phạm tính mạng con người và kèm theo đó là chế tài tương ứng.

    Điểm a khoản 4 Điều 134 quy định: người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe mà hậu quả làm chết người thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm.

    Điểm b khoản 2 Điều 135 quy định: người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mà hậu quả gây tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc làm chết người thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

    Khoản 3 Điều 136 quy định: người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội mà hậu quả dẫn đến chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.

    Điểm d khoản 3 Điều 154 quy định: người nào mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người mà hậu quả làm chết người thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

    Điểm c khoản 4 Điều 168 quy định: người nào cướp tài sản mà hậu quả làm chết người thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

    Điểm b khoản 4 Điều 169 quy định: người nào bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản mà hậu quả làm chết người thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

    Điểm c khoản 4 Điều 171 quy định: người nào cướp giật tài sản mà hậu quả làm chết người thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Khoản 5 Điều này còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”.

    Điều 186 quy định: “Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe … nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 380 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.

    Điểm g khoản 2 Điều 192 quy định: người nào sản xuất, buôn bán hàng giả mà hậu quả làm chết người thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

    Khoản 1 Điều 277 quy định: “Người nào chỉ huy, điều khiển tàu bay mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường không, có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”. Bên cạnh đó, điểm a, khoản 2 Điều 277 quy định: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Làm chết người;… ”.

    Khoản 1 Điều 299 quy định: “Người nào nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng mà xâm phạm tính mạng của người khác hoặc phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình”.

    Ngoài ra, trong Bộ luật Hình sự còn rất nhiều quy định, chế tài nhằm bảo vệ quyền sống của con người. Có thể nói, Bộ luật Hình sự là cơ sở pháp lý đầy đủ và cụ thể nhất để Nhà nước, tổ chức, cá nhân tùy theo thẩm quyền căn cứ vào đó mà có những hành động bảo vệ, lên án và trừng phạt những hành vi xâm phạm quyền sống của con người.

    Ở một khía cạnh khác, theo Luật trẻ em năm 2018 Đảng và Nhà nước đã coi trọng việc bảo vệ quyền sống của trẻ em. Cụ thể, ở tại Điều 12: “Trẻ em có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các Quyền sống ở điều kiện sống và phát triển”

    Việt Nam đã tham gia cả hai Công ước quốc tế cơ bản về nhân quyền năm 1966 (ICCPR, ICESCR) và một số điều ước quốc tế khác về quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương như Công ước về quyền trẻ em 1989, Công ước về xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ 1979… Việt Nam cũng đã ký và dự định sớm phê chuẩn Công ước về quyền của những người khuyết tật 2006. Đây là những cơ sở pháp lý quốc tế để thúc đẩy các quyền của những nhóm yếu thế, bao gồm quyền sống, ở Việt Nam.

    Nhìn chung về quyền sống, pháp luật Việt Nam hiện đã tương thích với luật nhân quyền quốc tế ở mức độ những nguyên tắc cơ bản; tuy nhiên, nếu so sánh với những yêu cầu cụ thể về quyền này trong luật nhân quyền quốc tế, vẫn còn một số khoảng cách cần nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện cho phù hợp hơn với pháp luật quốc tế và xu hướng chung trên thế giới;

    TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG

    TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!

    Bấm thanh toán & Tải về: 20.000 VNĐ (.docx)


    label

    Xem thêm tài liệu liên quan:

    • [Tiểu luận 2024] Di sản dùng vào việc thờ cúng theo pháp luật Việt Nam
    • [Tiểu luận 2024] Đánh giá thực trạng công chứng các văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng trên một số địa bàn (9.0 điểm) (MS-B0024)
    • [Tiểu luận 2024] Pháp luật về Thừa kế không phụ thuộc nội dung của di chúc
    • [Tiểu luận 2025] Nhận diện và phân tích các rủi ro cơ bản khi giao kết các loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ quan thực tế thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2020 đến nay. Từ đó, đề xuất một số ý kiến pháp lý để hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm
    • [Tiểu luận 2022] Phân tích quy định về giới hạn xét xử của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

    Chuyên mục: Kho tiểu luận/ Luật Hiến pháp Việt Nam/ Pháp luật về Quyền con người/ Tiểu luận môn Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự
    Từ khóa: Pháp luật quốc tế/ Quyền sống

    Primary Sidebar

    Báo cáo thực tập (điểm 8.5+)

    • Công ty Luật & Văn phòng Luật sư
    • Tòa án nhân dân
    • Cơ quan Nhà nước & Doanh nghiệp
    • Văn phòng & Phòng công chứng

    Tiểu luận ngành Luật Hình sự

    • Tiểu luận Luật Hình sự Việt Nam
    • Tiểu luận Luật Tố tụng hình sự
    • Tiểu luận Tư pháp người chưa thành niên
    • Tiểu luận Luật Thi hành án hình sự
    • Tiểu luận Luật Hình sự quốc tế
    • Tiểu luận Quyền con người trong tư pháp hình sự
    • Tiểu luận Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự
    • Tiểu luận Các giai đoạn tố tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam
    • Tiểu luận môn Những vấn đề hiện đại về Luật tố tụng hình sự
    • Tiểu luận Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự
    • Tiểu luận Trách nhiệm hình sự và hình phạt
    • Tiểu luận Khoa học điều tra tội phạm
    • Tiểu luận Tội phạm học
    • Tiểu luận Lý luận về phòng ngừa tội phạm

    Tiểu luận ngành Luật Dân sự

    • Tiểu luận môn Luật Dân sự Việt Nam
    • Tiểu luận môn Luật Tố tụng dân sự
    • Tiểu luận môn Luật Thi hành án dân sự
    • Tiểu luận môn Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
    • Tiểu luận môn Những vấn đề lý luận và thực tiễn chuyên sâu về tài sản
    • Tiểu luận môn Thủ tục đặc biệt trong tố tụng dân sự
    • Tiểu luận môn Luật Hôn nhân và gia đình

    Tiểu Luận Ngành Luật

    • Báo cáo thực tập
      • Cơ quan Nhà nước & Doanh nghiệp
      • Công ty Luật & Văn phòng Luật sư
      • Tòa án nhân dân
      • Văn phòng & Phòng công chứng
    • Kho tiểu luận
      • Cải cách hành chính nhà nước
      • Chủ nghĩa xã hội khoa học
      • Công pháp quốc tế
      • Đại cương văn hóa Việt Nam
      • Đăng ký và quản lý hộ tịch
      • Đạo đức người cán bộ kiểm sát
      • Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
      • Đường lối quốc phòng và an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam
      • Hợp đồng thương mại
      • Hướng nghiệp nghề Luật
      • Kinh tế Chính trị học Mác-Lênin
      • Kỹ năng chung về tư vấn pháp luật
      • Kỹ năng đàm phán – giao kết và giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự
      • Kỹ năng đàm phán – soạn thảo hợp đồng kinh doanh – thương mại
      • Kỹ năng giải quyết tranh chấp
      • Kỹ năng thẩm định thẩm tra Văn bản quy phạm pháp luật
      • Kỹ năng thực hành nghề nghiệp
      • Legal English Essay
      • Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
      • Lịch sử học thuyết chính trị
      • Lịch sử văn minh thế giới
      • Logic học
      • Luật An sinh xã hội
      • Luật An toàn thực phẩm
      • Luật Biển
      • Luật Cạnh tranh
      • Luật Chứng khoán
      • Luật Dân sự Việt Nam
        • Những vấn đề lý luận và thực tiễn chuyên sâu về tài sản
        • Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
      • Luật Doanh nghiệp
      • Luật Đất đai
      • Luật Đầu tư
      • Luật Hàng hải quốc tế
      • Luật Hành chính Việt Nam
      • Luật Hiến pháp nước ngoài
      • Luật Hiến pháp Việt Nam
        • Tiểu luận môn Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự
      • Luật Hòa giải – đối thoại tại Tòa án
      • Luật Hôn nhân và gia đình
      • Luật Khiếu nại – khiếu kiện hành chính
      • Luật Kinh doanh bảo hiểm
      • Luật Lao động Việt Nam
      • Luật Luật sư
      • Luật Môi trường Việt Nam
      • Luật Ngân hàng Việt Nam
      • Luật Ngân sách nhà nước
      • Luật Nhà ở
      • Luật Phá sản
      • Luật Phòng chống tham nhũng
      • Luật Sở hữu trí tuệ
      • Luật So sánh
      • Luật Tài chính
      • Luật Thi hành án dân sự
      • Luật Thuế Việt Nam
      • Luật Thương mại điện tử
      • Luật Thương mại quốc tế
      • Luật Thương mại Việt Nam
      • Luật Tổ chức chính quyền địa phương
      • Luật Tố tụng dân sự
        • Thủ tục đặc biệt trong tố tụng dân sự
      • Luật Tố tụng hành chính
      • Lý luận chung về Viện kiểm sát và công tác kiểm sát
      • Lý luận nhà nước và pháp luật
      • Lý luận và thực tiễn về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
      • Lý luận về phòng ngừa tội phạm
      • Nhà nước trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
      • Nhập môn nghiên cứu khoa học
      • Pháp luật cộng đồng ASEAN
      • Pháp luật đại cương
      • Pháp luật Liên minh Châu Âu
      • Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại
      • Pháp luật về Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
      • Pháp luật về Chống bán phá giá – chống trợ cấp và biện pháp phòng vệ thương mại
      • Pháp luật về Công chứng – chứng thực
      • Pháp luật về Dữ liệu cá nhân và công nghệ số
      • Pháp luật về Đấu thầu và đấu giá tài sản
      • Pháp luật về Kinh doanh bất động sản
      • Pháp luật về Người khuyết tật
      • Pháp luật về Quyền con người
      • Pháp luật về Thanh tra – Khiếu nại – Tố cáo
      • Pháp luật về Thu hồi đất – bồi thường và giải phóng mặt bằng
      • Pháp luật về Thương mại hóa tài sản trí tuệ
      • Pháp luật về Y tế
      • Phát triển kỹ năng
      • Quản trị công ty
      • Quản trị doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam
      • Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp
      • Quản trị thương hiệu
      • Tâm lý học đại cương
      • Tâm lý học tư pháp
      • Thanh toán quốc tế
      • Tiểu luận Lịch sử nhà nước và pháp luật
      • Tiểu luận môn Luật Hình sự quốc tế
      • Tiểu luận môn Luật Hình sự Việt Nam
        • Tiểu luận Trách nhiệm hình sự và hình phạt
      • Tiểu luận môn Luật Thi hành án hình sự
      • Tiểu luận môn Luật Tố tụng hình sự
        • Khoa học điều tra tội phạm
        • Tiểu luận môn Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự
        • Tiểu luận môn Các giai đoạn tố tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam
        • Tiểu luận môn Những vấn đề hiện đại về Luật tố tụng hình sự
      • Tiểu luận môn Tư pháp người chưa thành niên
      • Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
      • Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
      • Tội phạm học
      • Tranh tụng trong tố tụng hình sự
      • Triết học
      • Tư duy biện luận ứng dụng
      • Tư pháp quốc tế
      • Tư tưởng Hồ Chí Minh
      • Xã hội học pháp luật
      • Xây dựng lập luận pháp lý và viết trong hành nghề luật
      • Xây dựng văn bản pháp luật
    • TÀI LIỆU ÔN THI (Có đáp án)
      • 1. Đề cương ôn tập
      • 2. Trắc nghiệm A-B-C-D
      • 3. Câu hỏi tự luận
      • 4. Nhận định đúng sai
      • 5. Bài tập tình huống
      • 6. Ngân hàng đề thi

    Công nghệ chúng tôi sử dụng?

    Copyright © 2008 - 2026 Bản quyền nội dung thuộc về Tiểu Luận Ngành Luật. DMCA.com Protection Status