
- Trường học: Đại học Luật TP.HCM
- Điểm số: 8.75 điểm
- Số trang: 14 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B1116 | Năm 2026
- Luật áp dụng: Hiến pháp 2013 (SĐ,BS 2025) - Đối chiếu: Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
XEM NỘI DUNG TRANG BÌA & MỤC LỤC TIỂU LUẬN: Bộ máy nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ Hiến pháp


MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| PHẦN MỞ BÀI | 1 |
| BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN HIẾN PHÁP | 2 |
| 1. Bộ máy Nhà nước Việt Nam giai đoạn Hiến pháp năm 1946 | 2 |
| 2. Bộ máy Nhà nước Việt Nam giai đoạn Hiến pháp năm 1959 | 4 |
| 3. Bộ máy Nhà nước Việt Nam giai đoạn Hiến pháp năm 1980 | 5 |
| 4. Bộ máy Nhà nước Việt Nam giai đoạn Hiến pháp năm 1992 | 7 |
| 5. Bộ máy Nhà nước Việt Nam giai đoạn Hiến pháp năm 2013 | 10 |
| KẾT LUẬN | 14 |
LỜI MỞ ĐẦU
Hiến pháp là cơ sở pháp lý để xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất; đồng thời là cơ sở cho việc tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước. Tính đến nay, trong lịch sử lập Hiến của nước ta, có 05 bản Hiến pháp đã được ban hành: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và bản Hiến pháp đang có hiệu lực là bản Hiến pháp năm 2013. Mỗi bản Hiến pháp đều gắn liền với một giai đoạn phát triển của lịch sử cách mạng dân tộc, và quy định một bộ nhà nước mang đầy đủ những đặc thù của mỗi giai đoạn phát triển của đất nước.
Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là vấn đề rộng lớn, trong phạm vi bài viết này tôi chỉ đề cập đến những đặc điểm và tính chất nổi bật nhất của bộ máy nhà nước qua 5 bản hiến pháp.
1. Bộ máy Nhà nước Việt Nam giai đoạn Hiến pháp năm 1946
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Bác Hồ đọc Bản tuyên ngôn độc lập khai sinh Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Quảng trường Ba Đình. Ngay sau đó, công tác xây dựng bộ máy nhà nước kiểu mới, dân chủ với nhân dân đã được khẩn trương tiến hành. Ngày 01 tháng 01 năm 1946, Chính phủ liên hiệp lâm thời được thành lập. Ngày 06 tháng 01 năm 1946, Quốc hội khóa 1 được bầu thông qua tổng tuyển cử toàn quốc. Ngày 02 tháng 3 năm 1946, Quốc hội khóa 1 thành lập Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Ngày 09 tháng 11 năm 1946, Quốc hội khóa 1 thông qua Hiến pháp đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, thường được gọi là Hiến pháp năm 1946. Cùng khoảng thời gian này, thực dân Pháp nhăm nhe quay lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Bác Hồ ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, lực lượng cách mạng sau đó rút khỏi Hà Nội và tiến hành cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp trong suốt 9 năm (1946-1954). Như vậy, hoàn cảnh lịch sử trong giai đoạn này đặc trưng bởi bối cảnh chính trị – xã hội đầy khó khăn: nhà nước non trẻ mới được thành lập và ngay lập tức đứng trước nguy cơ bị đe dọa; môi trường chính trị trong nước phức tạp cùng sự xuất hiện của nhiều đảng, phái chính trị với những quan điểm khác nhau; phần lớn diện tích lãnh thổ của chúng ta vẫn nằm dưới sự chiếm đóng của thế lực ngoại xâm… Trong bối cảnh lịch sử như vậy, bộ máy nhà nước Việt Nam trong thời kì này mang một số đặc điểm nổi bật như sau:
Thứ nhất, bộ máy nhà nước Việt Nam thời kì Hiến pháp năm 1946 là bộ máy nhà nước dân chủ cộng hòa, chưa phải là bộ máy nhà nước Xã hội Chủ nghĩa
Điều này không những được khẳng định tại Điều thứ 1 Hiến pháp năm 1946 “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà” mà còn được thể hiện qua cách thức vận hành của hệ thống chính trị. Trong Hiến pháp năm 1946 chưa quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương hay bất kì đảng, phái chính trị nào. Trên thực tế, giai đoạn Hiến pháp năm 1946 tồn tại nhiều đảng phái chính trị tham gia công việc của nhà nước; thành phần của Quốc hội khoá 1 được bầu cũng có 57% đại diện của các đảng, phái chính trị khác nhau như Việt Minh, Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ, Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội và khá nhiều đại biểu không đảng phái (43%). Cơ cấu, tổ chức bộ máy nhà nước phản ánh khá rõ thuyết phân quyền, tương tự bộ máy nhà nước tư sản: Chủ tịch nước do Nghị viện bầu ra và đứng đầu Chính phủ song có địa vị khá độc lập với cơ quan bầu ra mình; thẩm phán do Chính phủ bổ nhiệm song hoạt động theo nguyên tắc độc lập, chỉ tuân theo pháp luật. Các quy định của Hiến pháp năm 1946 cho thấy cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước giai đoạn này chưa mang những đặc điểm của bộ máy nhà nước Xã hội Chủ nghĩa.
Thứ hai, bộ máy nhà nước quy định trong Hiến pháp năm 1946 chưa được thành lập trên thực tế
Chỉ 40 ngày sau khi Hiến pháp được thông qua, Chính phủ liên hiệp kháng chiến đã rút lên vùng núi phía Bắc để tiến hành cuộc kháng chiến trường kì. Do hoàn cảnh lịch sử, Hiến pháp năm 1946 tuy đã được thông qua nhưng chưa được công bố, Nghị viện theo Hiến pháp năm 1946 cũng chưa được bầu và theo đó các cơ quan khác như Chủ tịch nước, Chính phủ cũng chưa được thành lập theo Hiến pháp năm 1946. Trên thực tế, hầu hết công việc nhà nước trong thời gian này được điều hành bởi các sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành với tư cách Chủ tịch Chính phủ được thành lập từ trước Hỉến pháp năm 1946. Bên cạnh đó, Quốc hội khoá 1 làm nhiệm vụ của Nghị viện theo quy định của Hiến pháp năm 1946.
Thứ ba, Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 1946 có vị trí và quyền hạn hết sức đặc biệt trong bộ máy nhà nước
Chủ tịch nước vừa là người đứng đầu Nhà nước, vừa là người đứng đầu Chính phủ. Thủ tướng chỉ là người đứng đầu Nội các trong Chính phủ. Chủ tịch nước do Nghị viện bầu với tỉ lệ phiếu 2/3, nhưng trong khi Nghị viện có nhiệm kì 3 năm thì Chủ tịch nước lại có nhiệm kì 5 năm và có thể được bầu lại (Điều thứ 44 Hiến pháp năm 1946 và Điều thứ 24, 45 Hiến pháp năm 1946). Hiến pháp năm 1946 quy định Nghị viện có thể bất tín nhiệm Nội các, Thủ tướng (Điều thứ 54 Hiến pháp năm 1946), song lại không có quy định về việc bất tín nhiệm đối với Chủ tịch nước. Như vậy, vai trò kiểm soát về mặt chính trị của Nghị viện đối với Chủ tịch nước là khá hạn chế. Đặc biệt hơn nữa, Chủ tịch nước của Hiến pháp năm 1946 còn quy định Chủ tịch nước “không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc” và để xét xử tội danh này, Nghị viện phải thành lập một toà án đặc biệt (Điều thứ 50, 51 Hiến pháp năm 1946). Với những đặc quyền trên đây, có thể nói Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thời kì Hiến pháp năm 1946 là một vị trí bất khả xâm phạm, một vị trí mà không Chủ tịch nước nào ở các bản hiến pháp sau này có được…
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 14 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với 39.000 VNĐ!
