
- Trường học: Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
- Điểm số: 9.25 điểm
- Số trang: 31 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B1047 | Năm 2025
- Luật áp dụng: Bộ luật Dân sự 2015; Luật Doanh nghiệp 2014
XEM TRƯỚC NỘI DUNG TIỂU LUẬN
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

XEM TRƯỚC TRANG MỤC LỤC

MỤC LỤC TIỂU LUẬN CHI TIẾT
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP | 2 |
| CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH VỀ SỐ LƯỢNG NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP | 6 |
| CHƯƠNG 3. QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KIỆN CƯ TRÚ CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP | 11 |
| CHƯƠNG 4. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN CÔNG TY | 13 |
| 4.1. Nhóm nghĩa vụ tuân thủ | 14 |
| Thứ nhất, nghĩa vụ hành động trung thực | 15 |
| Thứ hai, nghĩa vụ hành động vì lợi ích cao nhất của công ty | 15 |
| Thứ ba, nghĩa vụ cẩn trọng | 16 |
| 4.2. Nhóm nghĩa vụ phòng tránh xung đột lợi ích | 16 |
| Thứ nhất, nghĩa vụ trung thành | 16 |
| Thứ hai, giao dịch với các bên có liên quan | 18 |
| 4.3. Quy định về trách nhiệm của người đại diện doanh nghiệp theo Luật Singapore và Luật Anh | 19 |
| CHƯƠNG 5. TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN | 22 |
| CHƯƠNG 6. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CÔNG TY | 24 |
| 6.1. Cần bổ sung chế định người đại diện “giấu mặt” (“giám đốc bóng tối”) | 24 |
| 6.2. Cần xác định lại khái niệm về người đại diện công ty | 25 |
| 6.3. Phải quy định rõ ràng và thể hiện được bản chất của nghĩa vụ của người đại diện công ty | 26 |
| 6.4. Phải xây dựng hệ thống án lệ liên quan đến nghĩa vụ của người đại diện công ty | 26 |
| 6.5. Hoàn thiện nội dung chế định về nghĩa vụ của người đại diện công ty trong pháp luật Việt Nam | 28 |
| KẾT LUẬN | 30 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 31 |
LỜI MỞ ĐẦU
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Để tồn tại, doanh nghiệp phải có người đại diện. Việc xác định ai là người có thẩm quyền đại diện doanh nghiệp trong giao dịch sẽ tuân theo pháp luật Việt Nam nếu doanh nghiệp đó là doanh nghiệp Việt Nam và giao dịch đó được thực hiện ở Việt Nam. Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp Việt Nam giao dịch với các doanh nghiệp nước ngoài thông qua người đại diện, thì việc xác định ai là người có thẩm quyền đại diện của các doanh nghiệp này để thực hiện một giao dịch lại trở nên phức tạp. Bởi về vấn đề này, pháp luật trong nước và pháp luật nước ngoài quy định không giống nhau. Trong khi đó, thực tiễn pháp lý Việt Nam trong những năm gần đây thường xảy ra những tranh chấp về thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp trong quan hệ quốc tế.
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP
Đại diện là chế định quan trọng trong pháp luật tư, được ghi nhận trong pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm cả quốc gia theo hệ thống civil law và common law. Thậm chí, các quốc gia theo hệ thống common law còn có học thuyết riêng khá toàn diện về đại diện (Agency). Trong mọi mặt đời sống xã hội nói chung và trong hoạt động kinh doanh thương mại nói riêng, đại diện thúc đẩy sự phân công lao động xã hội với một ảnh hưởng vô cùng rộng lớn. Vì thế, Konrad Zweigert và Hein Koetz cho rằng: Phương thức đại diện là một sự cần thiết không thể bị vô hiệu trong bất kỳ chế độ phát triển nào mà dựa trên sự phân công lao động đối với sản xuất, và phân phối hàng hóa và dịch vụ.
Sự ra đời và phát triển của chế định đại diện ở các nước Châu Âu lục địa dựa trên nền tảng tư tưởng của trường phái luật tự nhiên trong bối cảnh thương mại và công nghiệp đang phát triển mạnh với sự xuất hiện các vấn đề như giao một con tàu cho thuyền trưởng điều khiển và đại diện hay hoạt động kinh doanh thông qua sự điều hành của người khác.
Còn theo truyền thống Common law, pháp luật về đại diện (agency law) bắt nguồn từ một châm ngôn La tinh: “Qui facit per alium, facit per se” nghĩa là: hành động của một người thông qua một chủ thể khác được pháp luật coi là hành động của chính người đó. Quan hệ đại diện là một dạng quan hệ phức hợp được tạo bởi quan hệ giữa người ủy quyền (principal), người đại diện (agent) và người thứ ba (third party). Trên lĩnh vực pháp luật công ty, pháp luật của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đều quan tâm điều chỉnh vấn đề đại diện, đặc biệt là trong vấn đề quản trị công ty (corporate governance). Công ty với tư cách là một pháp nhân – một tự bản thân nó không thể hành động cho chính mình mà chỉ có thể hành động thông qua những con người cụ thể – những người đại diện. Do đó, công ty luôn cần có người đại diện trong giao dịch để xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Khi có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền đại diện thì vấn đề quản trị công ty xuất hiện.
Những thách thức đứng đằng sau tất cả các vấn đề quản trị công ty không có gì mới. Không thể kỳ vọng các thành viên HĐQT của công ty, người đại diện tiền bạc của người khác cũng cẩn trọng y như khi họ đại diện tiền bạc của chính mình. Điều đó đã được người khởi xướng lý thuyết đại diện (agency theory), Jensen và Mecklin giải thích như sau: “Lý thuyết đại diện liên quan đến một hợp đồng theo đó một hoặc vài người (cổ đông) giao cho người khác (thành viên HĐQT) thay mặt họ thực hiện một số dịch vụ, trong đó có việc ủy quyền ra quyết định cho đại diện. Nếu cả hai bên trong mối quan hệ này là những người muốn tối đa hóa lợi ích, chúng ta có lý do để tin rằng đại diện sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích của người chủ”.
Như vậy, sự phát triển của pháp luật công ty (company law), sự phân tách giữa quyền sở hữu và đại diện, kiểm soát công ty làm tiền đề cho sự xuất hiện lý thuyết về người chủ và người đại diện. Mối quan hệ này được coi như là quan hệ hợp đồng mà theo đó, các cổ đông (những người chủ sở hữu – principals), bổ nhiệm, chỉ định người khác, người đại diện công ty (người thụ ủy – agents) để thực hiện việc đại diện công ty cho họ, mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công ty. Người đại diện cho người chủ sở hữu (principals) hay cho cổ đông (shareholders) chính là thành viên HĐQT và những vị trí quản lý quan trọng (managers, directors) trong công ty hoặc thực hiện một vai trò trong vị trí của người quản lý bất luận chức danh của họ được gọi là gì.
Ở một số nước trên thế giới, khái niệm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp quy định cũng không giống nhau. Chẳng hạn, Theo Luật công ty Anh thì không có khái niệm người đại diện pháp luật của doanh nghiệp. Luật công ty Anh chỉ có định nghĩa chung về giám đốc- “director- giám đốc”. Theo Điều 250, Luật công ty Anh quy, cụm từ “giám đốc” được hiểu bao gồm bất kỳ cá nhân nào đảm nhiệm vị trí giám đốc, bất kể cá nhân đó được gọi với tên gọi nào ( In the Companies Acts “director” includes any person occupying the position of director, by whatever name called). Ngoài ra, luật Công ty Anh có quy định liên quan tới người đại diện theo pháp luật của công ty là: “Một thành viên cá nhân được ủy quyền bởi công ty có quyền thực hiện các quyền hạn tương tự công ty có thể thực hiện/(2)A person authorised by a corporation is entitled to exercise (on behalf of the corporation) the same powers as the corporation could exercise if it were an individual member of the company” (Đạo luật công ty 2006, mục 323).
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 31 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với 119.000 VNĐ!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ luật dân sự ngày 24 tháng 11 năm 2015.
- Luật doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005.
- Luật doanh nghiệp ngày 26 tháng 11 năm 2014.
- Singapore Companies Act 2006.
- United Kingdom Company Act 2006.
- Nguyễn Vũ Hoàng (2013), “Chế định đại điện trong pháp luật Việt Nam và vấn đề đặt ra trong thực tiễn áp dụng”, Tạp chí Luật học (2), tr.2.
- Konrad Zweigert and Hein Koetz (1998), An Introduction to Comparative Law, Claredon Press, Oxford, p431.
- Ngô Huy Cương (2009), “Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam – Nhìn từ góc độ Luật so sánh”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (4), tr.26-28.
- Abdul Kadar, Ken Hoyle, Geoffrey Whitehead (1985), Business Law, Made Simple Books, London, p.166.; Wikipedia, the free encyclopedia, Agency Law, http://en.wikipedia.org/wiki/Agency (law), (truy cập lần cuối 9/2013)
- Hồ Ngọc Hiển (2007), “Nghĩa vụ người đại diện và người ủy quyền theo pháp luật kinh doanh của Hoa Kỳ trong sự so sánh với các quy định pháp luật tương ứng của Việt Nam” , Tạp chí Nhà nước và Pháp Luật số 3, tr.57.
- Bùi Xuân Hải (2007), “Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (4), tr11-18.
- Adam Smith (1776), The Wealth of Nations, pp.800.
- Michael C Jensen and William Meckling (1976), “Theory of the Firm: Managerial Behavior, Agency Costs and Ownership Structure”, Journall of Financial Economics, October, 3(4), p.26.
