
- Trường học: Đại học Luật Hà Nội
- Điểm số: 8.00 điểm
- Số trang: 08 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B0978 | Năm 2025
- Luật áp dụng: Bộ luật Hình sự 2015 (SĐ,BS 2017,2024,2025)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG TIỂU LUẬN
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

XEM TRƯỚC TRANG MỤC LỤC

MỤC LỤC TIỂU LUẬN CHI TIẾT
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| CHƯƠNG 1. ĐIỂM GIỐNG NHAU TRONG CHẾ ĐỊNH GIẢM HÌNH PHẠT ĐÃ TUYÊN GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC | 1 |
| 1.1. Mục đích và triết lý chung của chế định | 1 |
| 1.2. Phạm vi đối tượng và thủ tục | 1 |
| 1.3. Nguyên tắc thời gian chấp hành tối thiểu và vai trò của lập công | 2 |
| CHƯƠNG 2. ĐIỂM KHÁC NHAU TRONG CHẾ ĐỊNH GIẢM HÌNH PHẠT ĐÃ TUYÊN GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC | 4 |
| 2.1. Cấu trúc điều kiện giảm chấp hình hình phạt và vai trò của lập công lớn | 4 |
| 2.2. Tính chất quyết định và phạm vi đối tượng bị hạn chế | 5 |
| 2.3. Ngưỡng thời gian và mức giảm cụ thể | 5 |
| CHƯƠNG 3. BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CHO PHÁP LUẬT VIỆT NAM | 7 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 8 |
LỜI MỞ ĐẦU
Cả Việt Nam và Trung Quốc đều thiết lập chế định giảm hình phạt cho phạm nhân nhằm khuyến khích người bị kết án cải tạo tích cực, Việt Nam gọi là giảm hình phạt đã tuyên, còn Trung Quốc gọi là “giảm hình phạt” (commutation)1Chương 6 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1979 (sửa đổi, bổ sung năm 1997, năm 2015), [https://en.spp.gov.cn/2020-12/26/c_948417_3.htm] (truy cập ngày 14/9/2025). Về mục đích, Trung Quốc quy định rõ ràng mục đích “nhằm khuyến khích người bị kết án cải tạo tiến bộ”2Điều 1 theo Quy định của Tòa án Nhân dân Tối cao về việc áp dụng cụ thể pháp luật trong xử lý các vụ án giảm hình phạt và tha tù trước thời hạn của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa – (Supreme People’s Court Provisions on the Specific Application of Law in Handling Cases of Commutations and Parole – gọi tắt là Quy định của SPC), [https://www.chinalawtranslate.com/en/supreme-peoples-court-provisions-on-the-specific-application-of-law-in- handling-cases-of-sentence-reductions-and-parole/] (truy cập ngày 14/9/2025), mặc dù Việt Nam không nêu cụ thể mục đích này trong điều luật, nhưng bản chất vẫn hướng đến việc tạo động lực thúc đẩy phạm nhân phấn đấu và rèn luyện trong quá trình chấp hành án3Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2023), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam phần chung, NXB Công an Nhân dân, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 394.. Về triết lý chung, Trung Quốc yêu cầu phạm nhân “tuân thủ nội quy, chấp hành giáo dục cải tạo và thể hiện sự ăn năn hối cải chân thành”4Điều 78 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1979 (sửa đổi, bổ sung năm 1997, năm 2015)., trong khi Việt Nam đòi hỏi phạm nhân có nhiều tiến bộ5Khoản 1 Điều 63 Bộ luật Hình sự Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).. Sự tương đồng này phản ánh quan điểm chung về việc tạo cơ hội cải tạo và tái hòa nhập xã hội cho người phạm tội.
CHƯƠNG 1. ĐIỂM GIỐNG NHAU TRONG CHẾ ĐỊNH GIẢM HÌNH PHẠT ĐÃ TUYÊN GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
1.1. Mục đích và triết lý chung của chế định
Cả Việt Nam và Trung Quốc đều thiết lập chế định giảm hình phạt cho phạm nhân nhằm khuyến khích người bị kết án cải tạo tích cực, Việt Nam gọi là giảm hình phạt đã tuyên, còn Trung Quốc gọi là “giảm hình phạt” (commutation)[1]. Về mục đích, Trung Quốc quy định rõ ràng mục đích “nhằm khuyến khích người bị kết án cải tạo tiến bộ”[2], mặc dù Việt Nam không nêu cụ thể mục đích này trong điều luật, nhưng bản chất vẫn hướng đến việc tạo động lực thúc đẩy phạm nhân phấn đấu và rèn luyện trong quá trình chấp hành án[3]. Về triết lý chung, Trung Quốc yêu cầu phạm nhân “tuân thủ nội quy, chấp hành giáo dục cải tạo và thể hiện sự ăn năn hối cải chân thành”[4], trong khi Việt Nam đòi hỏi phạm nhân có nhiều tiến bộ[5]. Sự tương đồng này phản ánh quan điểm chung về việc tạo cơ hội cải tạo và tái hòa nhập xã hội cho người phạm tội.
1.2. Phạm vi đối tượng và thủ tục
Về phạm vi áp dụng, cả Việt Nam và Trung Quốc đều triển khai chế định giảm hình phạt đã tuyên đối với người phạm tội chịu hình phạt tước tự do. Theo đó Việt Nam quy định cụ thể tại khoản 1, Điều 63 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025), trong khi Trung Quốc có quy định tương tự tại Điều 78 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1979 (sửa đổi, bổ sung năm 1997, năm 2015) nhưng mở rộng thêm hình phạt cải tạo giam giữ ngắn hạn.
Khác với Việt Nam thì hệ thống hình phạt của Trung Quốc còn có Cải tạo giam giữ ngắn hạn, theo Điều 33, 42 – 44 của BLHS Trung Quốc – đây là hình phạt chính, thời hạn cải tạo từ trên 01 tháng đến không quá 06 tháng, do Công an địa phương thi hành và người chấp hành hình phạt được về nhà 01 – 02 ngày mỗi tháng, bên cạnh đó Trung Quốc còn có thêm đối tượng đặc biệt như người khuyết tật[6], thể hiện tính nhân đạo theo hoàn cảnh. Cả hai hệ thống pháp luật đều thể hiện tính nhân đạo thông qua việc quy định mức giảm đặc biệt cho những trường hợp như người lớn tuổi và người mắc bệnh hiểm nghèo[7]. Đồng thời, cả hai đều áp dụng chế độ hạn chế giảm hình phạt đối với tái phạm hoặc những trường hợp tử hình được ân giảm xuống chung thân[8].
Về thủ tục, cả hai hệ thống đều đặt quyền quyết định giảm hình phạt thuộc thẩm quyền của Tòa án, dựa trên đề nghị của cơ quan thi hành án. Cụ thể, Trung Quốc yêu cầu cơ quan thi hành án trình đề nghị và Tòa án thành lập hội đồng xét xử tập thể, còn Việt Nam quy định Tòa án quyết định theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền[9].
1.3. Nguyên tắc thời gian chấp hành tối thiểu và vai trò của lập công
Cả hai hệ thống pháp luật đều quy định thời gian chấp hành tối thiểu sau giảm hình phạt đối với hình phạt tước tự do. Trung Quốc ấn định “không dưới một nửa thời hạn đã tuyên”[10], Việt Nam yêu cầu chấp hành một phần hai mức hình phạt đã tuyên[11]. Nguyên tắc này ngăn ngừa giảm hình phạt quá mức và bảo đảm tính răn đe. Đồng thời, cả hai đều công nhận lập công của phạm nhân là tiêu chí quan trọng để xem xét giảm hình phạt, theo đó các hành vi lập công thường bao gồm hợp tác phát hiện tội phạm, đóng góp khoa học kỹ thuật xuất sắc, cứu giúp người khác trong thiên tai[12]. Điều này thể hiện sự khuyến khích phạm nhân có hành động tích cực, có ích cho xã hội trong quá trình chấp hành án.
CHƯƠNG 2. ĐIỂM KHÁC NHAU TRONG CHẾ ĐỊNH GIẢM HÌNH PHẠT ĐÃ TUYÊN GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
2.1. Cấu trúc điều kiện giảm chấp hình hình phạt và vai trò của lập công lớn
Việt Nam đặt hai điều kiện cốt lõi[13]: đã chấp hành thời gian và có nhiều tiến bộ trong cải tạo, kèm bồi thường một phần nghĩa vụ dân sự. “Nhiều tiến bộ” là chấp hành tốt nội quy, học tập, lao động và xếp loại khá trở lên[14]; bồi thường tối thiểu một nửa[15], thể hiện chú trọng bảo vệ quyền lợi bị hại. Các tiêu chí xếp loại được quy định cụ thể[16], tuy nhiên chưa có cơ chế giám sát việc thực thi dễ dẫn tới đánh giá chủ quan. Còn Trung Quốc đặt ra bốn điều kiện[17]: tuân thủ nội quy, chấp hành giáo dục cải tạo, thể hiện ăn năn hối cải chân thành và đáp ứng nghĩa vụ bồi thường. Tiêu chí “ăn năn hối cải chân thành” áp dụng nghiêm ngặt, một số tội nghiêm trọng hoặc có chức vụ bị loại trừ khỏi tiêu chí này[18], ngoài ra bồi thường dân sự cũng được tích hợp trong tiêu chí này[19].
Trung Quốc phân biệt rõ ràng “lập công”[20] và “lập công lớn”[21]. Phân chia rõ ràng: “có thể được giảm hình phạt”[22] cho trường hợp bình thường đáp ứng một trong bốn điều kiện chính, và “sẽ được giảm hình phạt”[23] cho các trường hợp “lập công lớn” thuộc bảy nhóm cụ thể quy định tại Điều 79 theo Quy định của SPC. Còn theo quy định của Việt Nam không áp dụng yếu tố “lập công lớn” cho giảm hình phạt mà chỉ dành cho miễn chấp hành hình phạt[24], tạo sự phân tách giữa hai chế định. Điều này thiếu cơ chế “bắt buộc giảm hình phạt” khi đạt thành tích xuất sắc, tuy trao quyền tùy nghi cao cho Tòa án nhưng khuyến khích thấp đối với hành vi lập công lớn.
2.2. Tính chất quyết định và phạm vi đối tượng bị hạn chế
Việt Nam và Trung Quốc có cách tiếp cận khác biệt về nghĩa vụ đề nghị giảm hình phạt. Việt Nam quy định cơ quan thi hành án “có quyền đề nghị”[25], thể hiện tính tùy nghi cao và mang nặng tính thủ tục – hành chính. Trung Quốc quy định “cơ quan thi hành án phải trình kiến nghị”[26], biến việc này thành nghĩa vụ bắt buộc.
Việt Nam không có danh mục hạn chế GHPTĐT có thể dẫn đến rủi ro khi xử lý tội phạm nguy hiểm cao. Còn Trung Quốc áp dụng hệ thống hạn chế phức tạp: án treo dưới ba năm “thông thường không được giảm” trừ lập công lớn[27]; tội phạm chức vụ, tài chính, tổ chức mafia không được coi là ăn năn hối cải trừ khi lập công lớn[28]; đối với “chung thân không ân giảm” chắc chắn không được giảm và phải ghi rõ trong bản án[29].
2.3. Ngưỡng thời gian và mức giảm cụ thể
Việt Nam áp dụng phương pháp tỷ lệ linh hoạt với mốc 1/3 thời hạn đối với cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn, 12 năm cho chung thân hoặc 15 nếu phạm nhiều tội có hình phạt chung thân[30]. Trung Quốc áp dụng hệ thống mốc cứng tuyệt đối: từ 01 đến 02 năm[31], và chung thân phải chấp hành ít nhất 02 năm[32] và mốc cao hơn cho các loại tội phạm nguy hiểm[33]. Quan trọng hơn, Trung Quốc quy định rõ thời điểm bắt đầu tính từ ngày bản án thi hành[34], trong khi Việt Nam thiếu quy định này và còn nhiều quan điểm khác nhau về thời hạn tính chấp hành, chỉ dùng thuật ngữ “đã chấp hành được”[35] nên việc xét giảm phụ thuộc nhiều yếu tố, còn Trung Quốc minh bạch hơn với quy định thời gian tối thiểu cụ thể kèm thời điểm bắt đầu tính.
Việt Nam quy định mức giảm linh hoạt từ 03 đến 09 tháng cho cải tạo không giam giữ, 01 tháng đến 03 năm cho tù có thời hạn hoặc với mức 03 năm chỉ áp dụng khi có thành tích đặc biệt xuất sắc[36]. Trung Quốc lượng hóa chi tiết mức giảm dựa trên bốn tổ hợp tiêu chí tăng dần[37], tiếp cận mức giảm có tính phân hóa cao, khắc phục điểm yếu của Việt Nam chỉ quy định từng mốc giảm mang tính “cào bằng”, mà việc giảm mức tối đa hay tối thiểu thuộc quyết định tùy nghi của Hội đồng xét giảm hình phạt[38].
CHƯƠNG 3. BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CHO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Thứ nhất, hiến định rõ mục đích và nguyên tắc của GHPĐT trong BLHS. Nêu rõ mục tiêu kép “khuyến khích cải tạo – bảo vệ trật tự, an toàn xã hội”, kèm các nguyên tắc: cá thể hóa, dựa trên bằng chứng, ưu tiên khắc phục hậu quả, minh bạch, có thể kiểm chứng.
Thứ hai, lượng hóa tiêu chí “có nhiều tiến bộ” bằng thang điểm quốc gia áp dụng thống nhất cho trại giam. Với ba yêu cầu chính: (i) kỷ luật – nội quy; (ii) học tập, lao động, bồi thường; (iii) nguy cơ tái phạm. Ngoài ra, cần tăng cường cơ chế giám sát việc thực thi các tiêu chí xếp hạng này của VKSND.
Thứ ba, siết chặt mối liên hệ giữa GHPĐT và khắc phục hậu quả. Đặt ngưỡng bồi thường/khôi phục theo tỷ lệ từng loại tội, kèm cơ chế ký quỹ hoặc kế hoạch thanh toán bảo đảm thi hành. Chưa khắc phục đủ chỉ xét giảm hạn chế và kèm điều kiện giám sát.
Thứ tư, chuẩn hóa thời điểm, khoảng cách và mức trần tổng mức giảm. Ấn định thời gian tối thiểu trước lần xét đầu; khoảng cách tối thiểu giữa các lần sau; mức trần phần trăm giảm và phân chia thành tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng và án chung thân để tăng tính tiên liệu, công bằng.
Thứ năm, thiết kế danh mục kiểm soát rủi ro cho nhóm tội tham nhũng, có tổ chức, lừa đảo công nghệ cao, rửa tiền… với điều kiện nghiêm ngặt hơn: thu hồi tài sản triệt để, hợp tác thực chất, chứng cứ thay đổi hành vi. Đồng thời, loại trừ trường hợp vận động GHPĐT bằng ảnh hưởng, quan hệ hay thủ đoạn không chính đáng.
[1] Chương 6 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1979 (sửa đổi, bổ sung năm 1997, năm 2015), [https://en.spp.gov.cn/2020-12/26/c_948417_3.htm] (truy cập ngày 14/9/2025)
[2] Điều 1 theo Quy định của Tòa án Nhân dân Tối cao về việc áp dụng cụ thể pháp luật trong xử lý các vụ án giảm hình phạt và tha tù trước thời hạn của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa – (Supreme People’s Court Provisions on the Specific Application of Law in Handling Cases of Commutations and Parole – gọi tắt là Quy định của SPC), [https://www.chinalawtranslate.com/en/supreme-peoples-court-provisions-on-the-specific-application-of-law-in-handling-cases-of-sentence-reductions-and-parole/] (truy cập ngày 14/9/2025)
[3] Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2023), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam phần chung, NXB Công an Nhân dân, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 394.
[4] Điều 78 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1979 (sửa đổi, bổ sung năm 1997, năm 2015).
[5] Khoản 1 Điều 63 Bộ luật Hình sự Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).
[6] Điều 19, 20 theo Quy định của SPC.
[7] Điều 64 Bộ luật Hình sự Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025); Điều 20 theo Quy định của SPC.
[8] Khoản 4, khoản 5, khoản 6 Điều 63 Bộ luật Hình sự Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025); Điều 7, Điều 9, Điều 11 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1979 (sửa đổi, bổ sung năm 1997, năm 2015).
[9] Điều 63, Điều 64 Bộ luật Hình sự Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025); Khoản 2 Điều 38 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và Điều 79 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1979 (sửa đổi, bổ sung năm 1997, năm 2015).
[10] Điều 78 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1979 (sửa đổi, bổ sung năm 1997, 2015).
[11] Khoản 2 Điều 63 Bộ luật Hình sự Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).
[12] Điều 64 Bộ luật Hình sự Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025) và Điều 78 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1979 (sửa đổi, bổ sung năm 1997, 2015).
[13] Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2023), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam phần chung, NXB Công an Nhân dân, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 395.
[14] Điểm b, khoản 1, Điều 5 Nghị quyết 03/2024/NQ-HĐTP ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Việt Nam về hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt, hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.
[15] Điểm c, khoản 1, Điều 5 Nghị quyết 03/2024/NQ-HĐTP ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Việt Nam về hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt, hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.
[16] Thông tư số 06/2018/TT-BCA ngày 12 tháng 02 năm 2018 quy định về tiêu chuẩn thi đua trong chấp hành án phạt tù và xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân (Dự thảo Thông tư mới chưa được thông qua).
[17] Điều 78 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1979 (sửa đổi, bổ sung năm 1997, 2015).
[18] Điều 3 theo Quy định của SPC.
[19] Điều 3 theo Quy định của SPC.
[20] Điều 4 theo Quy định của SPC.
[21] Điều 4 theo Quy định của SPC.
[22] Điều 78 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1979 (sửa đổi, bổ sung năm 1997, 2015).
[23] Điều 78 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1979 (sửa đổi, bổ sung năm 1997, 2015).
[24] Điều 64 Bộ luật Hình sự Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025); Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 03/2024/NQ-HĐTP ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Việt Nam về hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt, hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.
[25] Điều 38 Thi hành án hình sự năm 2019.
[26] Điều 79 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1979 (sửa đổi, bổ sung năm 1997, 2015).
[27] Điều 18 theo Quy định của SPC.
[28] Điều 3 theo Quy định của SPC.
[29] Điều 15 theo Quy định của SPC.
[30] Điểm a, khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 03/2024/NQ-HĐTP ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Việt Nam về hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt, hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.
[31] Điều 6 theo Quy định của SPC.
[32] Điều 8 theo Quy định của SPC.
[33] Điều 7, Điều 9, Điều 10, Điều 11 theo Quy định của SPC.
[34] Trịnh Thị Nhật Huyền, “Bàn về cách tính thời hạn chấp hành hình phạt tù”, [https://vienkiemsathaiphong.gov.vn/kiem-sat-vien-viet/ban-ve-cach-tinh-thoi-han-chap-hanh-hinh-phat-tu-20778] (truy cập ngày 14/9/2025)
[35] Điều 63 Bộ luật Hình sự Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).
[36] Khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 03/2024/NQ-HĐTP ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Việt Nam về hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt, hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.
[37] Điều 6, Điều 8, Điều 10 theo Quy định của SPC.
[38] Điều 38 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 08 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với Miễn phí!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ luật Hình sự Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).
- Nghị quyết 03/2024/NQ-HĐTP ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Việt Nam về hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt, hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.
- Quy định của Tòa án Nhân dân Tối cao về việc áp dụng cụ thể pháp luật trong xử lý các vụ án giảm hình phạt và tha tù trước thời hạn của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa – (Supreme People’s Court Provisions on the Specific Application of Law in Handling Cases of Commutations and Parole – gọi tắt là Quy định của SPC), [https://www.chinalawtranslate.com/en/supreme-peoples-court-provisions-on-the-specific-application-of-law-in-handling-cases-of-sentence-reductions-and-parole/] (truy cập ngày 14/9/2025).
- Bộ luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1979 (sửa đổi, bổ sung năm 1997, năm 2015), [https://en.spp.gov.cn/2020-12/26/c_948417_3.htm] (truy cập ngày 14/9/2025).
- Quy định của Tòa án Nhân dân Tối cao về việc áp dụng cụ thể pháp luật trong xử lý các vụ án giảm hình phạt và tha tù trước thời hạn của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
- Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2023), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam phần chung, NXB Công an Nhân dân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trịnh Thị Nhật Huyền, “Bàn về cách tính thời hạn chấp hành hình phạt tù”, [https://vienkiemsathaiphong.gov.vn/kiem-sat-vien-viet/ban-ve-cach-tinh-thoi-han-chap-hanh-hinh-phat-tu-20778] (truy cập ngày 14/9/2025).
CHÚ THÍCH
- 1Chương 6 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1979 (sửa đổi, bổ sung năm 1997, năm 2015), [https://en.spp.gov.cn/2020-12/26/c_948417_3.htm] (truy cập ngày 14/9/2025)
- 2Điều 1 theo Quy định của Tòa án Nhân dân Tối cao về việc áp dụng cụ thể pháp luật trong xử lý các vụ án giảm hình phạt và tha tù trước thời hạn của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa – (Supreme People’s Court Provisions on the Specific Application of Law in Handling Cases of Commutations and Parole – gọi tắt là Quy định của SPC), [https://www.chinalawtranslate.com/en/supreme-peoples-court-provisions-on-the-specific-application-of-law-in- handling-cases-of-sentence-reductions-and-parole/] (truy cập ngày 14/9/2025)
- 3Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2023), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam phần chung, NXB Công an Nhân dân, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 394.
- 4Điều 78 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1979 (sửa đổi, bổ sung năm 1997, năm 2015).
- 5Khoản 1 Điều 63 Bộ luật Hình sự Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).
