THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 22 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0131.
- Pháp luật áp dụng: Hiến pháp năm 2013
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: NỘI DUNG NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ THEO HIẾN PHÁP NĂM 2013 | 2 |
| 1.1. Khái niệm tập trung dân chủ | 2 |
| 1.2. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc tập trung dân chủ | 3 |
| 1.3. Biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước | 4 |
| CHƯƠNG 2: CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC CỦA QUỐC HỘI VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN | 6 |
| 2.1. Chế độ làm việc của Quốc hội | 6 |
| a. Khái quát về chế độ làm việc của Quốc hội | 6 |
| b. Phương thức hoạt động của các cơ quan trong cơ cấu tổ chức Quốc hội | 7 |
| c. Kì họp Quốc hội | 10 |
| 2.2. Chế độ làm việc Viện kiểm sát nhân dân | 11 |
| a. Khái quát về chế độ làm việc của Viện kiểm sát nhân dân | 11 |
| b. Nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành | 11 |
| c. Nguyên tắc độc lập trong tổ chức và hoạt động | 12 |
| d. Nguyên tắc kết hợp vai trò lãnh đạo của viện trưởng và quyền thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng của Ủy ban kiểm sát | 13 |
| 2.3. Luận giải sự khác nhau trong chế độ làm việc của Quốc hội và Viện kiểm sát nhân dân | 14 |
| KẾT LUẬN | 17 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 18 |
LỜI MỞ ĐẦU
Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống các quan nhà nước tổ chức từ trung ương đến địa phương, nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, vì lợi ích giai cấp, lợi ích toàn xã hội và đảm bảo là công cụ để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước, thực hiện quyền dân chủ. Muốn tổ chức và thực hiện được hiệu quả, bộ máy nhà nước cần tuân theo những nguyên tắc nhất định như: Đảng lãnh đạo nhà nước, tập trung dân chủ, bình đẳng và đoàn kết dân tộc, tuân thủ pháp luật, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước là sự thống nhất phân công, phối hợp kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, và tư pháp,…Trong đó nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản nhất trong việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, thể hiện tính đặc thù trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đặc biệt được thể hiện rõ trong Hiến Pháp 2013. Nguyên tắc này tạo ra sự thống nhất về tổ chức và hành động, phát huy và kết hợp chặt chẽ sức mạnh của cả tập thể với sức mạnh từng cá nhân, của cả nước. Ta thấy rằng, Quốc hội và Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta nói chung. Do có vị trí, chức năng và nhiệm vụ mang tính đặc thù nên hệ thống của các cơ quan này được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc đặc thù. Nguyên tắc tập trung dân chủ là cơ sở để xây dựng chế độ làm việc của Quốc hội và Viện kiểm sát nhân dân.
Nhận thấy tính cấp thiết và thực tế của những vấn đề nêu trên, trong tiểu luận này, tôi sẽ phân tích chi tiết những đặc điểm cơ bản nhất của nguyên tắc tập trung dân chủ, qua đó chỉ rõ chế độ làm việc của Quốc hội và Viện kiểm sát nhân dân, đồng thời luận giải lí do dẫn tới sự khác biệt đáng kể trong chế độ làm việc của hai cơ quan trên.
CHƯƠNG 1: NỘI DUNG NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ THEO HIẾN PHÁP NĂM 2013
1.1. Khái niệm tập trung dân chủ
Tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc cơ bản về công tác tổ chức và hoạt động của các tổ chức cộng sản. Nguyên tắc này được lần đầu đề cập tới bởi V. I. Lênin trong Hội nghị I của những người Bôn-sê-vích (năm 1905). Sau đó, trong “Báo cáo về Đại hội thống nhất của Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga” vào tháng 5 năm 1906. Lênin đã chỉ rõ nguyên tắc “tập trung dân chủ” có nghĩa là “tự do trong thảo luận nhưng thống nhất trong hành động”[1]. Về sau, nguyên tắc này đã được thừa nhận là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng Cộng sản Liên Xô và được trình bày trong Điều lệ của Đảng và Điều lệ của Quốc tế cộng sản. Nguyên tắc tập trung dân chủ được Lênin phát triển dựa trên nền tảng là chế độ tập trung dân chủ. Bản chất của chế độ tập trung dân chủ là sự kết hợp tổng hòa mối quan hệ biện chứng giữa hai chế độ: tập trung và dân chủ trong quá trình thực hiện các mục tiêu chung, vì lợi ích của toàn thể xã hội. “Tập trung” biểu hiện ở sự thống nhất về mục tiêu và sự thống nhất trong lãnh đạo của bộ máy chính quyền đối với mọi vấn đề trong đời sống. Cùng với đó, “dân chủ” thể hiện qua sự coi trọng, đề cao tính năng động sáng tạo của quần chúng nhân dân, của tổ chức các cấp, của các địa phương,… trong việc tham gia đóng góp ý kiến, quan điểm đối với việc giải quyết những vấn đề của xã hội.
Với tư cách là nhà sáng lập và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn đầu thời kì chống Pháp, chống Mĩ cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt coi trọng nguyên tắc tập trung dân chủ và coi đó là nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo quan điểm của Hồ Chủ tịch, tập trung và dân chủ là hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo nên nguyên tắc tập trung dân chủ: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung.[…].”[2] Có thể thấy quan điểm của Hồ Chí Minh về tập trung dân chủ được tiếp cận chủ yếu trên phương diện lãnh đạo, quản lí. Dân chủ trong Đảng biểu hiện ở việc tất cả đảng viên đều có quyền tự do bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề được đưa ra thảo luận, sinh hoạt, từ đó góp phần thống nhất về quan điểm, chủ trương trong lãnh đạo, chỉ đạo; để xây dựng nghị quyết và áp dụng vào đời sống thực tiễn. Cái đích cuối cùng của thực hành dân chủ là đi đến tập trung – sự thống nhất trong quan điểm và đường lối lãnh đạo.
Nhìn chung, về cơ bản có thể hiểu rằng nguyên tắc tập trung dân chủ tức là thực hiện đồng thời hai nguyên tắc: dân chủ và tập trung trong tổ chức và hoạt động của các thiết chế nhà nước. Trong quản lí hành chính, nguyên tắc này đảm bảo cho sự tập trung quyền lực nhà nước vào tay chủ thể quản lí để chủ thể này có thể điều hành, chỉ đạo việc thực hiện các phương hướng, chính sách một cách đồng bộ; đồng thời đảm bảo phát huy được trí tuệ của tập thể cũng như tiềm năng của mọi cá nhân trong hoạt động quản lí nhà nước.
1.2. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc tập trung dân chủ
Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1959:
“[…] Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước khác đều thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ.” (Điều 4)
Nguyên tắc này tiếp tục được ghi nhận trong tại Điều 6 Hiến pháp năm 1980, Điều 6 Hiến pháp năm 1992 và Điều 6 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001. Với bản Hiến pháp gần đây nhất – Hiến pháp năm 2013, nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, hoạt động và quản lí bộ máy nhà nước tiếp tục được quy định tại Khoản 1 Điều 8 như sau: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.” Điểm khác biệt giữa Hiến pháp 2013 và các bản Hiến pháp trước đó trong quy định về nguyên tắc tập trung dân chủ là ở chỗ Hiến pháp 2013 đặt ra nguyên tắc này cho chủ thể là “Nhà nước” thay vì “Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước khác”. Trong đó, từ “nhà nước” theo Hiến pháp 2013 được hiểu theo nghĩa hẹp của nó – tương ứng với khái niệm “bộ máy nhà nước”. Việc thay thế cách liệt kê các thiết chế có trong bộ máy nhà nước bằng một từ ngắn gọn nhưng khái quát đầy đủ hơn đã thể hiện một bước phát triển mới trong trình độ lập pháp của nước ta…
[1] Lenin, Vladimir (1906), “Report on the Unity Congress of the R.S.D.L.P.” “VIII. The Congress Summed Up”, tại địa chỉ: https://www.marxists.org/archive/lenin/works/1906/rucong/viii.htm#v10pp65-376 ngày truy cập 25/06/2022.
[2] Trần Văn Hải (trưởng nhóm xây dựng bản thảo, 2011), Hồ Chí Minh toàn tập – tập 5, NXB Chính trị Quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, tr. 519-520.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/phan-tich-chi-ro-noi-dung-nguyen-tac-tap-trung-dan-chu-theo-hien-phap-nam-2013/
