THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 25 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0001.
- Pháp luật áp dụng: Luật Điều ước quốc tế năm 2016.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT QUỐC GIA | 2 |
| 1.1. Cơ sở lý luận của mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia | 2 |
| 1.2. Một số học thuyết về mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia | 3 |
| 1.3. Nội dung mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia | 5 |
| 1.3.1. Pháp luật quốc tế thường xuyên thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện pháp luật quốc gia | 5 |
| 1.3.2. Pháp luật quốc gia ảnh hưởng quyết định quá trình xây dựng, thực hiện và phát triển pháp luật quốc tế | 6 |
| CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC LUẬT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ | 9 |
| 2.1. Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia và pháp luật Việt Nam | 9 |
| 2.1.1. Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc ký kết ảnh hưởng tới pháp luật Việt Nam | 9 |
| 2.1.2. Pháp luật Việt Nam ảnh hưởng tới điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, ký kết | 9 |
| 2.2. Vị trí pháp lý của điều ước quốc tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam | 10 |
| 2.3. Các phương thức áp dụng nội dung điều ước quốc tế vào thực tế pháp luật | 11 |
| 2.3.1. Áp dụng trực tiếp | 11 |
| 2.3.2. Áp dụng gián tiếp | 12 |
| 2.4. Thực trạng thực thi các điều ước quốc tế ở Việt Nam | 13 |
| 2.4.1. Tích cực | 13 |
| 2.4.2. Hạn chế | 14 |
| 2.5. Giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu quả việc thực thi điều ước quốc tế ở Việt Nam | 15 |
| KẾT LUẬN | 16 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 17 |
| PHỤ LỤC 1: So sánh Luật quốc tế với Luật quốc gia | 18 |
| PHỤ LỤC 2: Hai trường phái của thuyết nhất nguyên luận | 21 |
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại hiện nay, khi mà quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, một quốc gia không thể nào tồn tại và phát triển theo cách riêng lẻ mà cần phải có sự liên kết với các quốc gia khác. Quan hệ hợp tác quốc tế không chỉ là nhu cầu nội tại thiết thực của bản thân mỗi quốc gia nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế – xã hội ở mỗi nước, mà còn là trách nhiệm và nghĩa vụ của các quốc gia xét dưới góc độ pháp luật quốc tế. Và Việt Nam cũng không nằm ngoài mối quan hệ này.
Với việc chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tố chức thương mại thế giới WTO vào ngày 07 tháng 11 năm 2006, thì số lượng các ĐƯQT mà Việt Nam tham gia ký kết, gia nhập đã có sự gia tăng nhanh chóng. Do đó, trách nhiệm đặt ra cho Việt Nam là phải đảm bảo cho các ĐƯQT được thực thi một cách tốt nhất. Để làm được điều này, trước hết cần phải tạo ra sự hài hòa giữa pháp luật Việt Nam với PLQT, điều đó có nghĩa là phải làm rõ và giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai phạm trù pháp luật này. Đây là một trong những đề tài gây ra nhiều tranh luận nhất trong quá trình xây dựng, phát triển và hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện nay. Liên quan đến vấn đề trên, trong phạm vi bài làm của nhóm sẽ trình bày các vấn đề về mối quan hệ giữa luật quốc tế với luật quốc gia và liên hệ ở Việt Nam trong lĩnh vực Luật điều ước quốc tế.
CHƯƠNG 1:
MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
VÀ PHÁP LUẬT QUỐC GIA
1.1. Cơ sở lý luận của mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia
Mặc dù PLQT và PLQG có sự khác nhau về đối tượng điều chỉnh, chủ thể, trình tự xây dựng quy phạm và cơ chế thực hiện, tuân thủ nhưng không thể tách biệt rạch ròi giữa PLQT và PLQG mà giữa chúng có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, dựa trên một số cơ sở nhất định:
Một là, từ sự thống nhất hai chức năng cơ bản – chức năng đối nội và đối ngoại – của nhà nước. Quá trình nhà nước thực hiện chức năng quản lý các công việc chung của xã hội được thể hiện qua hai phương diện hoạt động thuộc chức năng đối nội và chức năng đối ngoại của nhà nước. Để thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại, nhà nước sử dụng nhiều phương tiện khác nhau trong đó có một phương tiện không thể thiếu là pháp luật mà cụ thể là PLQG và PLQT. Do đó, sự gắn bó chặt chẽ giữa hai chức năng cơ bản của nhà nước là một trong những yếu tố tạo cơ sở cho việc tồn tại mối quan hệ biện chứng giữa PLQT và PLQG.
Hai là, sự có mặt của nhà nước với địa vị vừa là tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị vừa là thực thể đại diện cho quốc gia – một chủ thể có chủ quyền trong quá trình ban hành PLQG và xây dựng PLQT.
PLQG do nhà nước ban hành nên nó luôn có tính giai cấp, định hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ và củng cố địa vị của giai cấp thống trị.
Trong quan hệ quốc tế, nhà nước là thực thể đại diện cho quốc gia tham gia vào quá trình xây dựng PLQT, và mỗi quốc gia đều cân nhắc tận dụng mọi cơ hội để lợi ích của mình được thể hiện ở mức cao nhất. Chính vì vậy, PLQT mặc dù không phải do quốc gia ban hành, song vẫn thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của quốc gia, cụ thể là thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị ở chính quốc gia đó.
Như vậy, dù là PLQG hay PLQT thì chúng đều thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị ở mỗi quốc gia. Do đó, PLQT không thể tồn tại và phát triển tách rời PLQG, mà ngược lại, nó gắn bó chặt chẽ với PLQG, cùng bảo vệ lợi ích cơ bản của nhà nước và bảo vệ lợi ích chung của xã hội.
Ba là, từ sự thống nhất về chức năng của hai hệ thống pháp luật trong quá trình điều chỉnh các quan hệ pháp luật mà quốc gia là chủ thể.
Bốn là, nguyên tắc tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế (pacta sunt servanda) cũng là cơ sở cho việc tồn tại mối quan hệ giữa PLQT và PLQG. Bởi nội dung của nguyên tắc này là mọi quốc gia đều có nghĩa vụ phải thực hiện một cách tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế của mình thông qua nhiều hành vi khác nhau trong đó có hành vi ban hành VBPL mới hoặc sửa đổi, bổ sung các VBPL hiện hành để chúng có nội dung phù hợp với các cam kết quốc tế của quốc gia.
Tóm lại, quá trình hình thành, phát triển của mối quan hệ giữa PLQT và PLQG cũng như các cơ sở lý luận của mối quan hệ này cho thấy sự tồn tại của mối quan hệ chúng mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của mỗi quốc gia cũng như của bất kỳ một chủ thể nào khác của PLQT[1].
1.2. Một số học thuyết về mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia
Mối quan hệ giữa PLQT và PLQG tuy là vấn đề lý luận truyền thống của luật quốc tế nhưng vẫn đồng thời mang tính thời sự sâu sắc đối với mỗi quốc gia trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và phát triển pháp luật. Trong khoa học pháp lý truyền thống đã có một số học thuyết tiêu biểu xem xét về mối quan hệ này như sau:
Một là, thuyết nhất nguyên luận (Monism). Đại diện cho học thuyết này là H.Kelsen, A.Verdross, A.Zorn, B.Kunz… Trên cơ sở quan niệm PLQT và PLQG đều có cùng một bản chất là pháp luật tự nhiên và giữa chúng chỉ có sự khác biệt về hình thức thể hiện, thuyết nhất nguyên luận cho rằng PLQG và PLQT không thể tồn tại trong sự mâu thuẫn xung đột với nhau mà chúng phải tồn tại với tư cách là hai bộ phận của một hệ thống pháp luật thống nhất, trong đó, bộ phận này tùy thuộc vào bộ phận kia[2]. Tuy nhiên, thuyết nhất nguyên luận lại đưa ra hai khả năng xác định quan hệ giữa PLQT và PLQG tuỳ theo vị trí ưu tiên của chúng. Một trường phái coi PLQT có vị trí ưu tiên hơn và trường phái thứ hai coi PLQG có vị trí ưu tiên hơn[3].
Hai là, thuyết nhị nguyên luận (Dualism) được hình thành vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX với các đại diện tiêu biểu như luật gia người Đức Triepel, Struff và luật gia người Ý D.A. Anzilotti, Cavaglieri… Trái ngược với chủ nghĩa nhất nguyên, chủ nghĩa nhị nguyên coi PLQT và PLQG là hai hệ thống pháp luật hoàn toàn độc lập với nhau. Chủ nghĩa nhị nguyên xây dựng lập luận của mình trên cơ sở phân tích sự khác biệt giữa PLQT và PLQG về thẩm quyền, nguồn luật và đối tượng áp dụng của các quy phạm pháp luật. PLQT điều chỉnh quan hệ liên quốc gia, chỉ áp dụng cho các quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế còn PLQG chủ yếu điều chỉnh quan hệ giữa các cá nhân và pháp nhân trong nước. Chính vì những khác biệt đó cho nên PLQT và PLQG phải là hai hệ thống pháp luật riêng biệt và tồn tại độc lập với nhau[4].
Nhìn chung, hai học thuyết đều có những quan điểm chưa hợp lý, chưa thật thuyết phục về mối quan hệ giữa PLQT và PLQG.
Thuyết nhất nguyên luận đã sai lầm khi cho rằng PLQT và PLQG là hai bộ phận của một hệ thống pháp luật chung. Hơn thế nữa, khi thuyết nhất nguyên luận đặt PLQT cao hơn PLQG (trường phái ưu tiên PLQT) sẽ dẫn đến vi phạm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia – một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của PLQT[5]. Hoặc, khi thuyết nhất nguyên luận đặt PLQT thấp hơn PLQG (trường phái ưu tiên PLQG) tức là đã đề cao chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, phủ nhận sự nỗ lực hợp tác giữa các quốc gia trong việc giải quyết những vấn đề quốc tế.
Thuyết nhị nguyên luận có điểm tiến bộ hơn thuyết nhất nguyên luận ở chỗ nó phân biệt sự khác nhau giữa PLQT và PLQG, tuy nhiên, điểm hạn chế cơ bản của thuyết này là đã phủ nhận mối quan hệ qua lại giữa PLQT và PLQG. Điều này thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá về mối quan hệ giữa hai hệ thống luật còn phiến diện. Bởi lẽ, sự tiếp cận khoa học và hiện đại về mối quan hệ giữa PLQT và PLQG phải là làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đồng thời chỉ ra được tính chất của sự tác động qua lại giữa hai hệ thống luật với nhau[6].
Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng cả hai học thuyết này vẫn có những ảnh hưởng nhất định đến việc quá trình thực hiện PLQT ở từng quốc gia…
[1] Lê Thị Mai Anh (2011), Mối quan hệ giữa Điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Hà Nội.
[2] I.A. Shearer (1994), Starke’s International Law, Butterworths, tr.65.
[3] Xem thêm Phụ lục 2.
[4] I.A. Shearer (1994), tlđd, tr. 64-65..
[5] Nguyễn Thị Kim Ngân (2001), Mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
[6] Trường Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật Quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.35-36.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0001″]
