• Trang chủ
  • Tiểu luận miễn phí
  • Bảng phí viết mới tiểu luận
  • Liên hệ Facebook
Tiểu luận ngành Luật

Tiểu Luận Ngành Luật

Chuyên trang tiểu luận, khóa luận, luận văn ngành luật

  • Hướng dẫn tải TÀI LIỆU
  • Danh mục môn học

Trang chủ: » Kho tiểu luận

[Tiểu luận 2024] Pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động

    THÔNG TIN TIỂU LUẬN

    • Trường: Đại học Luật Hà Nội
    • Định dạng: WORD
    • Số trang: 51 trang (cả bìa)
    • Năm: 2024 / Mã số: B0067.
    • Pháp luật áp dụng: Bộ luật Lao động năm 2019.

    XEM TRƯỚC NỘI DUNG

    phap luat ve cham dut hop dong lao dong 1 phap luat ve cham dut hop dong lao dong 2 phap luat ve cham dut hop dong lao dong 3

    MỤC LỤC TIỂU LUẬN

    MỤC LỤCTrang
    DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
    LỜI MỞ ĐẦU1
    1. Lý do chọn đề tài1
    2. Mục đích - yêu cầu1
    3. Phương pháp nghiên cứu2
    4. Đối tượng nghiên cứu2
    5. Phạm vi nghiên cứu2
    6. Kết quả nghiên cứu3
    7. Ý nghĩa nghiên cứu3
    CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG4
    1.1. Cơ sở lý luận về chấm dứt hợp đồng lao động4
    1.1.1. Khái niệm Hợp đồng lao động4
    1.1.2. Khái niệm chấm dứt hợp đồng lao động7
    1.2. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động8
    1.3. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động9
    1.4. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động10
    1.5. Trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động12
    1.6. Hủy bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động14
    1.7. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật14
    Kết luận chương 116
    CHƯƠNG 2: NGHĨA VỤ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG17
    2.1. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật17
    2.2. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật18
    2.3. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế19
    2.4. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã21
    Kết luận Chương 222
    CHƯƠNG 3: PHƯƠNG ÁN SỬ DỤNG LAO ĐỘNG VÀ TRÁCH NHIỆM KHI CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG23
    3.1. Phương án sử dụng lao động23
    3.2. Thông báo chấm dứt hợp đồng lao động24
    3.3. Trợ cấp thôi việc26
    3.4. Trợ cấp mất việc làm30
    3.5. Trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động35
    Kết luận chương 338
    CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẤM DỨT LAO ĐỘNG39
    4.1. Thực trạng áp dụng pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động39
    4.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động41
    4.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động42
    Kết luận Chương 444
    KẾT LUẬN45
    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO47

    LỜI MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Tình hình kinh tế xã hội ngày nay ngày càng phát triển, sự xuất hiện đột ngột của dịch bệnh Covid-19 làm nền kinh tế có sự biến động không hề nhỏ thì việc các nhà máy, công ty vỡ nợ buộc đóng cửa là việc không tránh khỏi. Vậy thì công viên viên chức, người lao động (NLĐ) sẽ có những quyền lời như thế nào khi bị mất việc, nó được xử lý thông qua hợp đồng lao động (HĐLĐ) mà 2 bên ký với nhau ngay khi hợp tác. Vì thế để  tìm hiểu kĩ hơn về cách thực hiện HĐLĐ như thế nào cũng như tại sao lại xảy ra việc chấm dứt hợp đồng , ai là người có quyền chấm dứt HĐLĐ, quyền và nghĩa vụ của các bên như thế nào khi HĐLĐ chấm dứt và hậu quả pháp lí xảy ra.

    Mục lục:

    Toggle
    • THÔNG TIN TIỂU LUẬN
    • XEM TRƯỚC NỘI DUNG
    • MỤC LỤC TIỂU LUẬN
    • LỜI MỞ ĐẦU
      • 1. Lý do chọn đề tài
      • 2. Mục đích – yêu cầu
      • 3. Phương pháp nghiên cứu
      • 4. Đối tượng nghiên cứu
      • 5. Phạm vi nghiên cứu
      • 6. Kết quả nghiên cứu
      • 7. Ý nghĩa nghiên cứu
    • CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
      • 1.1. Cơ sở lý luận về chấm dứt hợp đồng lao động
        • 1.1.1. Khái niệm Hợp đồng lao động
        • 1.1.2. Khái niệm chấm dứt hợp đồng lao động
      • 1.2. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động
      • 1.3. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
    • TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG

    Do nền kinh tế thị trường có nhiều biến động do những lý do khách quan khác nhau tình trạng vi phạm HĐLĐ ngày càng phổ biến. Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng giữa các chủ thể diễn ra một cách bốc đồng, tự ý bỏ ngang không có sự thống nhất với nhau. Hay việc các chủ thể tự ý làm việc với nhau không qua các hợp đòng rồi khi vi phạm không có căn cứ để xử lý dễ gây ra nhiều hậu qủa đáng tiếc. Chẳng hạn như có một số doanh nghiệp thuê công nhân mà không ý HĐLĐ sau một thời gian các công nhân bị đuổi việc không lý do và không có căn cứ để kiện doanh nghiệp này. Vì thế việc sử dụng hợp đồng khi lao động là việc hết sức cần thiết tránh gây ra những thiệt hại đáng tiếc cho các bên. Trong đó việc chấm dứt hợp đồng là vấn đề được quan tâm trên hết khi ký kết hợp đồng. Việc chám dứt hợp đồng không đusng quy định ảnh hưởng lớn đến cả 2 bên chủ thể nên. Chính vì thế việc chấm dứt hợp đồng là việc được các chủ thể quan tâm trên hết.

    2. Mục đích – yêu cầu

    Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ các vấn đề của việc chấm dứt hợp đồng như các truờng hợp chấm dứt hợp đồng theo quy định, quyền đoưn phương chấm dứt hợp đồng của các chủ thể, nghĩa vụ của các bên khi đơn phương chấm dứt hợp đồng, các khoản chi phí trợ cấp khi vi pham hợp đồng. Đưa ra các giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh việc chấm dứt hợp đồng của nứơc ta.

    Yêu cầu: Đưa ra đựơc các khái niệm về luật lao động, HĐLĐ, việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Phân tích cặn kẽ về vấn đề chấm dứt HĐLĐ được quy định trong Bộ luật lao động (BLLĐ) số 45/2019/QH14. Nghiên cứu thực trạng việc chấm dứt hợp đồng ở nước ta hiện nay, đưa ra những điểm bất cập, chưa hợp lý của nước ta hiện nay. Đề xuất một số kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện hơn về việc chấm dứt hợp đồng ở nước ta.

    3. Phương pháp nghiên cứu

    Phương pháp phân tích – tổng hợp lý thuyết: đây là phương pháp chủ yếu của tiểu luận nhằm phân tích những quy định của pháp luật, tổng hợp những số liệu, kết quả nghiên cứu đánh giá và giải quyết các cấn đề chấm dứt hợp đồng trái quy định.

    Phương pháp diễn giải- quy nạp: Phương pháp này được dùng để tổng hợp các tài liệu, kết quả nghiên cứu được từ đó rút ra được các kết luận.

    4. Đối tượng nghiên cứu

    Bộ luật Lao động năm 2019.

    Văn bản pháp luật về chấm dứt hợp đồng, đơn phương chấm dứt hợp đồng.

    Thực trạng về việc chấm dứt hợp đồng các giải pháp của nước ta hiện nay.

    5. Phạm vi nghiên cứu

    Chấm dứt HĐLĐ là một trong những quy định quan trong của HĐLĐ, nó có liên quan tới các vấn đề của hợp đồng cũng nhưng các quyền lợi của các chủ thể trong hợp đồng là vấn đề có các trường phát sinh thêm mà không lường trước được vì vậy có thể nói nó là vấn đề khá rộng, có nhiều khía cạnh để nghiên cứu, có nhiều vấn đề để xử lý. Trong bài tiểu luận này sẽ đưa ra những quy định của pháp luật về việc chấm dứt hợp đồng, nêu ra được những kiến nghị, giải pháp mới được rút kết từ quá trình nghiên cứu của mọi người.

    Tiểu luận nghiên cứu từ các nghị định, quyết định, BLLĐ số 45/2019/QH14 các văn bản liên quan đến việc chấm dứt HĐLĐ.

    6. Kết quả nghiên cứu

    Quá trình nghiên cứu tiểu luận chúng tôi đã ngiên cứu được những vấn đề trong việc chấm dứt hợp đồng như sau:

    – Các trường hợp chấm dứt HĐLĐ

    – Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng cuả NLĐ và người sử dụng lao động (NSDLĐ).

    – Đơn phương chấm dứt hợp đồng và nghĩa vụ của NLĐ và NSDLĐ khi chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.

    – Nghĩa vụ của NLĐ khi có sự thay đổi trong cơ cấu kimh tế.

    – Thông báo chấm dứt HĐLĐ và trợ cấp thôi việc, mất việc làm.

    – Trách nhiệm khi chấm dứt HĐLĐ.

    – Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hệ thống pháp luật về việc chấm dứt hợp đồng.

    7. Ý nghĩa nghiên cứu

    Ý nghĩa khoa học: Bài tiểu luận củng cố và hoàn thiện cơ sở pháp lý về việc chấm dứt hợp đồng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, làm tài liệu tham khảo có các tổ chức các cá nhân có thẩm quyền tham khảo, giải quyết tranh chấp xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật về việc chấm dứt hợp đồng.

    Ý nghĩa thực tiễn: Bài tiểu luận phân tích rõ hơn cho mọi người về các khái niệm về luật lao động, chấm dứt hợp đồng. Giải quyết được những thắc mắc trong BLLĐ, đưa ra được giải pháp kiến nghị thuẹc tiễn về việc chấm dứt hợp đồng, Cũng chỉ ra được những bất cập chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật trong việc chấm dứt hợp đồng. Bài tiểu luận cũng có thể làm bài tham khảo cho các nhà chức trách có thẩm quyền tham khảo để hoàn thiện hơn trong pháp luật Việt Nam.

    CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

    1.1. Cơ sở lý luận về chấm dứt hợp đồng lao động

    1.1.1. Khái niệm Hợp đồng lao động

    Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, để sử dụng lao động, NSDLĐ có thể lựa chọn các cách thức khác nhau. NSDLĐ có thể sử dụng lao động thông qua phương thức tuyển dụng lao động trực tiếp hoặc thuê lại lao động của doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, trong hai phương thức này, phương thức tuyển dụng lao động trực tiếp bao giờ cũng là phương thức tuyển dụng cơ bản được NSDLĐ sử dụng chủ yếu bởi phương này giúp cho doanh nghiệp có được lực lượng lao động ổn định và bền vững. Hơn nữa, việc thuê lại lao động của doanh nghiệp khác chỉ được áp dụng trong những trường hợp pháp luật cho phép với những điều kiện hết sức chặt chẽ nên không phải lúc nào NSDLĐ cũng có thể áp dụng được phương thức này. Để có thể tuyển dụng trực tiếp lao động vào làm việc, giữa NSDLĐ và NLĐ cần phải có cam kết, thoả thuận về mặt pháp lí để chính thức xác lập mối quan hệ giữa các bên, thiết lập quyền và nghĩa vụ pháp lí giữa các bên. Hình thức pháp lí đó chính là HĐLĐ.

    Về phương diện lịch sử, luật lao động ra đời sau luật dân sự. Vì vậy, trước đó các vấn đề pháp lí liên quan đến quan hệ lao động nói chung, hợp đồng trong lĩnh vực lao động nói riêng được điều chỉnh bằng các quy định của luật dân sự. Chính bởi vậy, trước đây trong hệ thống pháp luật của nhiều nước (như Pháp, Đức, Trung Quốc…) hầu như xác định HĐLĐ là môt loại của hợp đồng dân sự. Chẳng hạn Điều 611 BLDS năm 1896 của Đức quy định:“Thông qua hợp đồng hai bên đã cam kểt thực hiện một hoạt động thì phải thực hiện hoạt động đó, còn bên kia có nghĩa vụ trả thù lao theo thoả thuận”.

    Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của khoa học, luật lao động, quan hệ lao động cũng như nhận thức mới về sức lao động (với những yếu tố đặc thù) đã khiến cho quan niệm về HĐLĐ trong khoa học pháp lí cũng như trong quy định của pháp luật các nước đã có sự thay đổi. Cùng với quan hệ lao động cá nhân, quan hệ lao động tập thể cũng luôn phát triển nhằm duy trì nền hòa bình công nghiệp trong các doanh nghiệp. Chính bởi vậy, bên cạnh quan hệ HĐLĐ (những thoả thuận trong HĐLĐ), những thoả thuận của tập thể lao động với NSDLĐ hoặc đại diện NSDLĐ (như thoả ước lao động tập thể) cũng rất được quan tâm và coi trọng. Những thoả thuận tập thể này cũng sẽ chi phối rất lớn đến những thoả thuận trong HĐLĐ. Do đó, bên cạnh luật dân sự được coi là cơ sở pháp lí chung cho các quan hệ hợp đồng thì ngày nay quan hệ HĐLĐ còn được điều chỉnh bằng các quy định riêng trong luật lao động như BLLĐ Việt Nam, Luật Tiêu chuẩn lao động (Hàn Quốc, Nhật Bản…). Mặt khác, nếu như trước đây ở một số nước, đặc biệt là những nước xã hội chủ nghĩa (trong thời kì nền kinh tế tập trung bao cấp), quan hệ lao động mang nặng yếu tố hành chính nên cơ chế điều chỉnh của pháp luật có xu hướng thiên về luật công thì trong nền kinh tế thị trường, quan niệm về sức lao động đã có sự thay đổi và quan hệ lao động đã trở về với đúng bản chất của nó (quan hệ trao đổi mua bán hàng hoá sức lao động). Chính vì vậy, đối với các nước phân chia hệ thống pháp luật thành luật công và luật tư đều xếp quan hệ HĐLĐ thuộc lĩnh vực luật tư (như Đức, Pháp…). Hệ thống pháp luật Việt Nam tuy không phân chia theo hệ thống luật công và luật tư (mà chia theo hệ thống ngành luật) song quan hệ HĐLĐ ngày càng được nhìn nhận theo đúng bản chất cùa nó. Yếu tố thoả thuận trong HĐLĐ ngày càng phải được đề cao và tôn trọng thay thế cho yếu tố can thiệp hành chính của Nhà nước. Sự can thiệp của Nhà nước vào quan hệ lao động nói chung, HĐLĐ nói riêng chỉ ở những mức độ nhất định nhằm hướng tới việc bảo vệ NLĐ (chủ thể có vị trí thế yếu trong quan hệ lao động) trong nền kinh tế thị trường.

    Hợp đồng theo Từ điển tiếng Việt được hiểu:“Là sự thoả thuận giao ước giữa hai hay nhiều bên quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thường được viết thành văn bản”.

    Bộ luật dân sự 2015 tại Điều 385 có quy định:“Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.

    Như vậy, về bản chất, hợp đồng phải là sự thoả thuận, giao ước giữa các bên và nội dung của nó phải là những quy định về các quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia (về từng lĩnh vực cụ thể). HĐLĐ cũng là một loại hợp đồng (trước đây HĐLĐ được xem là hợp đồng dân sự, sau này mới tách ra thành loại HĐLĐ riêng), vì vậy nó cũng phải mang bản chất của hợp đồng nói chung đó là tính khế ước, được hình thành trên cơ sở sự thoả thuận của các bên. Song khác với hợp đồng dân sự hay hơp đồng thương mại, sự thoả thuận này phải là sự thoả thuận giữa các chủ thể của quan hệ lao động (NLĐ và NSDLĐ) và nội dung của nó phải liên quan đến các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động như vấn đề về việc làm, tiền lương, thời gian làm việc, BHXH…

    Điều 1 Pháp lệnh HĐLĐ được Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 30/8/1990 – văn bản pháp lí đánh dấu mốc quan trọng về HĐLĐ quy định: “HĐLĐ là sự thoả thuận giữa NLĐ với người sử dụng thuê mướn lao động (gọi chung là NSDLĐ) về việc làm có trả công, mà hai bên cam kết với nhau về điều kiện sử dụng lao động và điều kiện lao động, về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”.

    BLLĐ năm 2019 thì quy định: “HĐLĐ là sự thoả thuận giữa NLĐ và người sử dung lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động”.

    Có thể thấy khái niệm HĐLĐ trong BLLĐ năm 2019 về cơ bản quay lại định nghĩa về HĐLĐ theo BLLĐ năm 1994 nhưng có thêm yếu tố tiền lương. Định nghĩa này đã nêu được các yếu tố cơ bản nhất của HĐLĐ, đó là về bản chất HĐLĐ là sự thương lượng, thoả thuận, giao ước của các bên, chủ thể của HĐLĐ là NLĐ và NSDLĐ, nội dung HĐLĐ là việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động. Đặc biệt BLLĐ năm 2019 còn quy định: “Trường hợp hai bên thoả thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lí, điều hành, giảm sát của một bên thì được coi là HĐLĐ”.

    Điều đó có nghĩa việc xác định một họp đồng là HĐLĐ không quá phụ thuộc vào tên gọi của hợp đồng mà phụ thuộc vào nội dung của nó. Nếu nội dung thoả thuận của các bên trong hợp đồng có các điều khoản của HĐLĐ (các dấu hiệu của HĐLĐ) thì vẫn xác định đó là HĐLĐ. Quy định này nhằm hạn chế tình trạng NSDLĐ “biến tướng” HĐLĐ dưới các hình thức hợp đồng khác, bảo vệ quyền lợi cho NLĐ.

    Khái niệm và quan điểm này cũng phù hợp với quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế và pháp luật các nước về HĐLĐ. Theo Tổ chức Lao động quốc tế, HĐLĐ được hiểu là: “Thoả thuận ràng buộc pháp lí giữa một NSDLĐ và một công nhân trong đó xác lập các điều kiện và chế độ làm việc ” và dấu hiệu nhận diện quan hệ HĐLĐ được thể hiện trong Khuyến nghị 198. Hệ thống khoa học luật lao động của Pháp cũng quan niệm: “HĐLĐ là sự thoả thuận theo đó một người cam kết sẽ tiến hành một hoạt động theo sự chỉ đạo của người khác, lệ thuộc vào người đó và được trả công’’.

    Còn ở Hàn Quốc, HĐLĐ được hiểu là: “Hợp đồng cỏ nội dung về việc thoả thuận NLĐ cung cẩp sức lao động của mình cho NSDLĐ, ngược lại NSDLĐ trả lương tương xứng với sức lao động của NLĐ”

    Như vậy, có thể thấy HĐLĐ thực chất là sự thoả thuận giữa hai chủ thể, một bên là NLĐ có nhu cầu về việc làm, một bên là NSDLĐ có nhu cầu thuê mướn NLĐ để mua sức lao động. Trong đó, NLĐ cam kết tự nguyện làm một công việc cho NSDLĐ và đặt mình dưới sự quản lí của NSDLĐ và được NSDLĐ trả lương.

    1.1.2. Khái niệm chấm dứt hợp đồng lao động

    Ngày 20/11/2019 Quốc hội đã thông qua BLLĐ năm 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021. BLLĐ năm 2019 được thông qua với nhiều điểm mới, thay đổi, bổ sung quan trọng, đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong lĩnh vực lao động hiện nay. Với những sự thay đổi đó của BLLĐ đã được các chuyên gia pháp luật đánh giá đã đưa khuôn khổ pháp luật tiệm cận hơn các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Theo BLLĐ 2019 thì phần HĐLĐ bao gồm: giao kết HĐLĐ, thực hiện HĐLĐ, chấm dứt HĐLĐ, HĐLĐ vô hiệu, cho thuê lại HĐLĐ. Trong đó chấm dứt HĐLĐ được xem là tất cả các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia HĐLĐ sẽ được chấm dứt. Khi HĐLĐ chấm dứt, quan hệ lao động giữa các bên cũng sẽ không còn tồn tại, các bên không phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động nữa.

    Chấm dứt HĐLĐ là sự kiện NLĐ chấm dứt làm việc cho NSDLĐ do HĐLĐ đương nhiên chấm dứt, do NLĐ bị sa thải, hoặc do một trong hai bên đơn phương chấm dứt HĐLĐ trước thời hạn.

    Đơn phương chấm dứt hợp đồng là quyền được “rút chân” ra khỏi một hợp đồng đã được giao kết trước. Về nguyên tắc, việc phá vỡ cam kết luôn không được khuyến khích, nếu như không muốn nói là bị cấm đoán. Tuy nhiên, nếu như pháp luật hợp đồng nói chung trù liệu cho việc phá vỡ cam kết một cách chủ động chỉ trong một số trường hợp được dự kiến và bên phá vỡ cam kết luôn phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định, thì luật lao động xem việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ, đặc biệt là việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ từ NLĐ như một quyền quan trọng của NLĐ, quan trọng không kém quyền được giao kết HĐLĐ.

    1.2. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

    Theo điều 34 BLLĐ số 45/2019/QH14 quy định có 13 trường hợp được chấm dứt HĐLĐ theo quy định của pháp luật. Đây là những trường hợp mà cả 2 bên đều có quyền chấm dứt hợp đồng khi tới thời hạn mà không cần phải thực hiện thêm bất cứ điều khoản nào để chấm dứt hợp đồng. BLLĐ năm 2019 đã bổ sung thêm quy định cụ thể đối với chủ thể nước ngoài làm việc và sinh sống tại Việt Nam, bộ luật có thêm trường hợp thảo thuận thử việc cũng như loại bỏ trường hợp NLĐ đủ điều kiện về thời gian đóng BHXH và tuổi hưởng lương hưu trong trường hợp đương nhiên chấm dứt HĐLĐ so với khoản 4 điều 36 BLLĐ số 10/2012/QH13.

    Các trường hợp chấm dứt HĐLĐ trên đều do các nguyên nhân khách quan mà hợp đồng không thể tiếp tục như bị xa thải do vi phạm kỷ luật hay các bên chủ thể khi hết HĐLĐ cũ không muốn tiếp tục HĐLĐ mới với nhau.

    1.3. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

    Với cách quy định tại điều 35 BLLĐ 2019 về nguyên tắc, trong mọi trường hợp, vì bất kỳ lý do gì và với loại HĐLĐ nào, NLĐ luôn có quyền tự mình tuyên bố chấm dứt HĐLĐ mà chỉ cần tuân thủ yêu cầu về việc báo trước nêu trên. Ngay khoản 2 Điều 35, Luật còn miễn cho NLĐ nghĩa vụ phải báo trước khi có những lý do được liệt kê là nguyên nhân của việc chấm dứt HĐLĐ. Có thể xem trường hợp thứ hai này là việc chấm dứt HĐLĐ không cần điều kiện.

    Khoản 1 Điều 35: NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ nhưng phải báo trước cho NSDLĐ.

    Khoản 1 Điều 35 ghi nhận NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ không cần lý do và đáp ứng về thời hạn báo trước cho NLĐ. Đây là quy định hợp Hiến và phù hợp với thực tiễn.

    Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam đã khẳng định “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc” (khoản 1, Điều 35). Theo đó, Hiến pháp đã đề cao quyền tự do lựa chọn việc làm và nơi làm việc, một trong những quyền con người quan trọng trong lĩnh vực lao động. Từ đó có thể thấy BLLĐ 2019 sửa đổi về quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ là theo đúng tinh thần của Hiến pháp.

    Bên cạnh đó, từ thực tiễn chúng ta thấy hiện nay có rất nhiều lý do tác động đến sự gắn bó của NLĐ đối với đơn vị NSDLĐ như: chế độ đãi ngộ, văn hóa công ty, điều kiện phát triển bản thân… Nếu một trong những vấn đề đó không được đảm bảo theo năng lực, NLĐ hoàn toàn có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ là điều hợp lý và chỉ cần tuân thủ về thời gian báo trước.

    TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG

    [xyz-ihs snippet=”B0067″]

    Xem thêm tài liệu liên quan:

    • [Tiểu luận 2024] Đánh giá thực trạng công chứng các văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng trên một số địa bàn (9.0 điểm) (MS-B0024)
    • [Tiểu luận 2024] Pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình
    • [Tiểu luận 2024] Phân tích thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về nội quy lao động và đề xuất các kiến nghị
    • [Tiểu luận 2025] Phân tích những điểm mới trong Luật Kinh doanh bất động sản 29/2023/QH15 ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Quốc hội và tác động của những điểm mới này đối với nền kinh tế - xã hội (Bài 3)
    • [Tiểu luận 2024] Phân tích và đánh giá việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

    Chuyên mục: Kho tiểu luận/ Luật Lao động Việt Nam
    Từ khóa: Chấm dứt hợp đồng/ Hợp đồng lao động

    Primary Sidebar

    Báo cáo thực tập (điểm 8.5+)

    • Công ty Luật & Văn phòng Luật sư
    • Tòa án nhân dân
    • Cơ quan Nhà nước & Doanh nghiệp
    • Văn phòng & Phòng công chứng

    Nhóm Luật Hiến pháp | Hành chính

    • Tiểu luận Luật Hiến pháp Việt Nam
    • Tiểu luận Luật Hiến pháp nước ngoài
    • Tiểu luận Luật Tổ chức chính quyền địa phương
    • Tiểu luận Luật Hành chính Việt Nam
    • Tiểu luận Luật Tố tụng hành chính
    • Tiểu luận Cải cách hành chính nhà nước
    • Tiểu luận Đăng ký và quản lý hộ tịch
    • Tiểu luận Luật Ngân sách nhà nước
    • Tiểu luận Pháp luật về Quyền con người
    • Tiểu luận Luật Khiếu nại – khiếu kiện hành chính
    • Tiểu luận Pháp luật về Thanh tra – Khiếu nại – Tố cáo
    • Tiểu luận Nhà nước trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
    • Tiểu luận Lý luận và thực tiễn về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
    • Tiểu luận Pháp luật về Thu hồi đất – bồi thường và giải phóng mặt bằng
    • Tiểu luận Xây dựng văn bản pháp luật
    • Tiểu luận Luật Phòng chống tham nhũng
    • Tiểu luận Pháp luật về Người khuyết tật
    • Tiểu luận Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
    • Tiểu luận Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
    • Tiểu luận Luật An sinh xã hội

    Nhóm Luật Hình sự | Tội phạm học

    • Tiểu luận Luật Hình sự Việt Nam
    • Tiểu luận Luật Tố tụng hình sự
    • Tiểu luận Tư pháp người chưa thành niên
    • Tiểu luận Luật Thi hành án hình sự
    • Tiểu luận Luật Hình sự quốc tế
    • Tiểu luận Quyền con người trong tư pháp hình sự
    • Tiểu luận Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự
    • Tiểu luận Các giai đoạn tố tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam
    • Tiểu luận môn Những vấn đề hiện đại về Luật tố tụng hình sự
    • Tiểu luận Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự
    • Tiểu luận Trách nhiệm hình sự và hình phạt
    • Tiểu luận Khoa học điều tra tội phạm
    • Tiểu luận Tội phạm học
    • Tiểu luận Lý luận về phòng ngừa tội phạm

    Nhóm ngành Luật Dân sự | HNGĐ

    • Tiểu luận Luật Dân sự Việt Nam
    • Tiểu luận Luật Tố tụng dân sự
    • Tiểu luận Luật Thi hành án dân sự
    • Tiểu luận Thủ tục đặc biệt trong tố tụng dân sự
    • Tiểu luận Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
    • Tiểu luận Những vấn đề lý luận và thực tiễn chuyên sâu về tài sản
    • Tiểu luận Luật Hôn nhân và gia đình

    Nhóm ngành Luật Thương mại

    • Tiểu luận Luật Thương mại Việt Nam
    • Tiểu luận Luật Thương mại quốc tế
    • Tiểu luận Luật Thương mại điện tử
    • Tiểu luận Hợp đồng thương mại
    • Tiểu luận Luật Doanh nghiệp
    • Tiểu luận Luật Đất đai
    • Tiểu luận Luật Đầu tư
    • Tiểu luận Luật An toàn thực phẩm
    • Tiểu luận Luật Cạnh tranh
    • Tiểu luận Luật Chứng khoán
    • Tiểu luận Luật Kinh doanh bảo hiểm
    • Tiểu luận Luật Lao động Việt Nam
    • Tiểu luận Luật Luật sư
    • Tiểu luận Luật Môi trường Việt Nam
    • Tiểu luận Luật Ngân hàng Việt Nam
    • Tiểu luận Luật Nhà ở
    • Tiểu luận Luật Phá sản
    • Tiểu luận Luật Tài chính
    • Tiểu luận Luật Thuế Việt Nam
    • Tiểu luận Pháp luật về Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
    • Tiểu luận Pháp luật về Công chứng – chứng thực
    • Tiểu luận Pháp luật về Dữ liệu cá nhân và công nghệ số
    • Tiểu luận Pháp luật về Đấu thầu và đấu giá tài sản
    • Tiểu luận Pháp luật về Kinh doanh bất động sản
    • Tiểu luận Luật Sở hữu trí tuệ
    • Tiểu luận Pháp luật về Thương mại hóa tài sản trí tuệ
    • Tiểu luận Pháp luật về Y tế
    • Tiểu luận Thanh toán quốc tế

    Nhóm ngành Luật Quốc tế | So sánh

    • Tiểu luận Công pháp quốc tế
    • Tiểu luận Tư pháp quốc tế
    • Tiểu luận Luật Thương mại quốc tế
    • Tiểu luận Luật Hình sự quốc tế
    • Tiểu luận Thanh toán quốc tế
    • Tiểu luận Luật Hàng hải quốc tế
    • Tiểu luận Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại
    • Tiểu luận Luật Biển
    • Tiểu luận Pháp luật cộng đồng ASEAN
    • Tiểu luận Pháp luật Liên minh Châu Âu
    • Tiểu luận Luật So sánh
    • Tiểu luận Pháp luật về Chống bán phá giá – chống trợ cấp và biện pháp phòng vệ thương mại

    Công nghệ chúng tôi sử dụng?

    Copyright © 2008 - 2026 Bản quyền nội dung thuộc về Tiểu Luận Ngành Luật. DMCA.com Protection Status