THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 25 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0087.
- Văn bản áp dụng: Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN | 2 |
| 1.1. Khái niệm tiếng ồn, ô nhiễm tiếng ồn và pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn | 2 |
| 1.2. Nội dung pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn | 2 |
| 1.3. Các nguyên tắc trong kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn | 4 |
| 1.4. Vai trò của pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn | 5 |
| 1.5. Quy định về trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn | 5 |
| 1.6. Chế tài xử lý trong vi phạm về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn | 6 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN Ở VIỆT NAM | 8 |
| 2.1. Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn ở Việt Nam | 8 |
| 2.2. Những khó khăn, vướng mắc trong kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn | 10 |
| 2.3. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc | 14 |
| CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN | 15 |
| 3.1. Bình luận và gợi mở đối với pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn ở Việt Nam qua các nước trên thế giới | 15 |
| 3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn | 18 |
| KẾT LUẬN | 21 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 22 |
LỜI MỞ ĐẦU
Môi trường hiện đang là vấn đề nóng không chỉ đối với Việt Nam mà đối với nhiều quốc gia trên thế giới, dù đó là quốc gia đang phát triển hay quốc gia phát triển. Trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam, sự ô nhiễm, suy thoái và những sự cố môi trường đang làm cho môi trường có những thay đổi bất lợi cho con người. Nguyên nhân chính của tình trạng này là sự tác động theo chiều hướng tiêu cực của con người tới môi trường ngày càng gia tăng.
Ở nước ta từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, mở cửa cho đến nay, nhiều nhà máy, nhà xưởng, khu đô thị, nhà cao tầng, được thành lập và xây dựng khắp nơi, phương tiện giao thông ngày càng tăng nhưng sự phát triển này không được quy hoạch trong thời gian dài, dẫn đến ô nhiễm tiếng ồn ngày càng tăng. Điển hình như ở các thành phố lớn hoặc các thành phố đang phát triển, mật độ, tốc độ xây dựng và phương tiện giao thông ngày càng dày đặc, các khu vui chơi giải trí ngày càng nhiều. Trong khi đó vấn đề ô nhiễm tiếng ồn lại chưa được mọi người quan tâm đúng mức. Kiến thức phổ thông về tiếng ồn không phải là kiến thức khoa học đơn thuần mà còn là vấn đề có tính thời sự trong cuộc sống.
Để đảm bảo cho người dân được sống trong môi trường trong lành, Nhà nước đã ban hành các đạo luật để điều chỉnh vấn đề này như: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực vào ngày 01/01/2022, Nghị định 45/2022 ngày 7/7/2022 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, tuy nhiên sau một thời gian thi hành áp dụng trên thực tế, các quy định của Luật và các văn bản có liên quan đã bộc lộ những hạn chế, thiếu sót nhất định như chưa quy định cụ thể về cách xác định và phân loại nguồn gây ô nhiễm tiếng ồn, mức xử phạt còn thấp chưa đủ sức răn đe, hay khó khăn trong thẩm quyền xử phạt…đã làm cho công tác kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn còn chưa thật sự đạt hiệu quả cao.
Chính vì vậy, để làm rõ vấn đề này, tôi xin chọn đề tài “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn ở Việt Nam” để hoàn thành bài tiểu luận kết thúc học phần của mình.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN
1.1. Khái niệm tiếng ồn, ô nhiễm tiếng ồn và pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Về khái niệm, tiếng ồn chính là âm thanh được sinh ra bởi hoạt động lao động, sản xuất, sinh sống và giải trí của con người. Theo đó, tùy thuộc vào cường độ mà người ta đánh giá về mức độ ồn để có những phương án khắc phục, xử lý phù hợp, kịp thời. Âm thanh sinh ra và mất đi trong một thời gian ngắn, tuy nhiên, nếu lặp đi lặp lại nhiều lần với cường độ lớn thì được gọi là tiếng ồn.
Ô nhiễm tiếng ồn là tiếng ồn phát ra trong một môi trường vượt quá ngưỡng nhất định gây khó chịu cho người hoặc động vật. Hầu hết ở các nước không, nguồn gây ô nhiễm tiếng ồn chủ yếu từ tiếng ồn ngoài trời như phương tiện giao thông, vận tải, xe có động cơ, máy bay và tàu hỏa. Tiếng ồn ngoài trời còn được nói gọn từ tiếng ồn môi trường.
Mục đích cơ bản của pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn là nhằm hạn chế nguồn ồn, phòng ngừa, giảm thiểu những ảnh hưởng xấu của tiếng ồn, bảo vệ chất lượng môi trường sống của con người. Thông qua việc định hướng xử sự của cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân trong quá trình làm phát sinh tiếng ồn, đồng thời ràng buộc những chủ thể này bằng những chế tài cụ thể, có thể định nghĩa pháp luật kiểm soát ô nhiễm tếng ồn như sau:
“Pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn là tổng thể các quy phạm pháp luật các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động của các cơ quan nhà nước, các cá nhân, tổ chức là chủ nguồn ồn và các chủ thể khác trong quá trình phòng ngừa, dự báo, theo dõi, kiểm tra, giám sát và phát hiện những tác động của tiếng ồn, sự phát tán tiếng ồn, xử lý tiếng ồn, đảm bảo môi trường sống của con người”.
1.2. Nội dung pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Các quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn môi trường: Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật là công cụ và phương tiện quan trọng để duy trì các chuẩn mực trong các quan hệ kinh tế, thương mại, thúc đẩy doanh nghiệp quan tâm đổi mới, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, đảm bảo an toàn, vệ sinh, sức khỏe cho con người; bảo vệ động vật, thực vật và môi trường, sử dụng hợp lý tại nguyên thiên nhiên để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người dân.
Pháp luật về đánh giá tác động môi trường trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn. Để phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hoạt động phát triển kinh tế gây ra, bên cạnh quy định về quy hoạch môi trường, Luật Bảo vệ Môi trường 2020 cũng quy định về việc lập, thẩm định thông qua các báo cáo đánh giá tác động môi trường. Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp Bảo vệ Môi trường khi triển khai dự án đó.
Các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn từ nguồn ồn di động: Để kiểm soát ô nhiễm môi trường tiếng ồn từ nguồn thải di động, Nhà nước đã ban hành một số quy định về vấn đề này. Các quy chuẩn về tiếng ồn đối với ô tô, mô tô, xe máy, tàu hỏa, máy bay trước khi được đưa vào lưu thông đã được quy định cụ thể.
Các quy định về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn từ nguồn thải cố định (trong sinh hoạt và sản xuất, kinh doanh và dịch vụ) Nhà nước ta đã ban hành nhiều quy chuẩn kỹ thuật về tiếng ồn đối với nguồn thải cố định ví dụ như thời gian phát tán tiếng ồn, thời gian tiếp xúc, độ ồn.
Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn: Theo quy định của Luật bảo vệ môi trường năm 2020, thì gây tiếng ồn vượt quá tiêu chuẩn cho phép là một trong những hành vi bị nghiêm cấm. Theo đó, chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn có thể gánh chịu các loại trách nhiệm pháp lý sau:
– Trách nhiệm hành chính;
-Trách nhiệm dân sự;
-Trách nhiệm hình sự.
1.3. Các nguyên tắc trong kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Thứ nhất, nguyên tắc cơ bản của pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn chính là Nhà nước ghi nhận và bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành của con người, đảm bảo cuộc sống được hài hòa với tự nhiên.
Thứ hai, nguyên tắc “phòng ngừa – giảm thiểu” là nguyên tắc ưu tiên trong kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn. Nguyên tắc này luôn được coi là phương châm của hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung, trong đó có kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn nói riêng.
Thứ ba, nguyên tắc “phát triển bền vững”, phát triển bền vững chính là phát triển trên cơ sở duy trì được mục tiêu và cơ sở vật chất của quá trình phát triển. Chỉ có thể phát triển biền vững khi kiểm soát ô nhiễm môi trường được hiệu quả đồng thời từ đó sẽ thúc đẩy phát triển xã hội.
Thứ tư, nguyên tắc phối hợp và liên kết, có nghĩa là trên phạm vi toàn cầu phải có sự hợp tác để kiểm soát ô nhiễm chung, trong phạm vi quốc gia phải đặt dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước theo hướng hình thành cơ chế mang tính liên vùng, bảo đảm sự hợp tác chặt chẽ giữa các địa phương, cần phải đảm bảo có mối quan hệ tương tác giữa các ngành, các văn bản quy phạm pháp luật trong việc quản lý, điều chỉnh các hoạt động phát triển phù hợp với công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường.
Thứ năm, nguyên tắc kiểm soát ô nhiễm tại nguồn, nguyên tắc này được ghi nhận xuất phát từ một đặc đỉểm rất quan trọng của âm thanh là khuếch tán và lan truyền, nên khi có hành vi gây tiếng ồn thì việc xác định cường độ và hậu quả đối với con người là rất khó khăn. Cách hiệu quả nhất để hạn chế tiếng ồn là kiểm soát ngay tại nguồn phát sinh ra tiếng ồn.
Thứ sáu, nguyên tắc người gây ô nhiễm tiếng ồn phải chịu trách nhiệm pháp lý: Người hoặc tổ chức gây ô nhiễm tiếng ồn thì phải chịu trách nhiệm pháp lý như trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại do tiếng ồn của mình gây ra.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0087″]
