THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 16 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0183.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2022] Hãy trình bày về quyền của người chưa thành niên được đảm bảo một cách tốt nhất trong quá trình áp dụng các thủ tục tố tụng hình sự thân thiện? Theo em, các quyền của người chưa thành niên trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã đáp ứng các chuẩn mực quốc tế chưa? Tại sao?](https://cdn.tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2022/02/B0183-quyen-cua-nguoi-chua-thanh-nien-duoc-dam-bao-mot-cach-tot-nhat-trong-qua-trinh-ap-dung-cac-thu-tuc-to-tung-hinh-su-than-thien-1.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | 3 |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN ĐƯỢC ĐẢM BẢO MỘT CÁCH TỐT NHẤT TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC THỦ TỤC TỐ TỤNG HÌNH SỰ THÂN THIỆN | 2 |
| 1.1. Quyền của người bị buộc tội là người chưa thành niên | 2 |
| 1.2. Quyền của bị hại là người chưa thành niên | 5 |
| 1.3. Quyền của người làm chứng là người chưa thành niên | 6 |
| CHƯƠNG II: LIÊN HỆ GIỮA CÁC QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ CÁC CHUẨN MỰC QUỐC TẾ | 8 |
| 2.1. Thành tựu | 8 |
| 2.2. Hạn chế | 9 |
| 2.3. Nguyên nhân của những hạn chế | 10 |
| CHƯƠNG III: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VÀ Ý KIẾN | 11 |
| KẾT LUẬN | 12 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 13 |
LỜI MỞ ĐẦU
Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho các cháu thiếu niên, nhi đồng tình thương yêu và quan tâm đặc biệt. Với Bác, trẻ em là những mầm non, những người chủ tương lai của đất nước. Bác nói: “cái mầm có xanh thì cây mới vững, cái búp có xanh thì lá mới tươi quả mới tốt, con trẻ có được nuôi dưỡng giáo dục hẳn hoi thì dân tộc mới tự cường tự lập”. Do vậy sự phát triển của trẻ em là vô cùng quan trọng, cần được quan tâm và phát triển một cách hoàn thiện trong đó cần có cả sự hiểu biết của mọi người về những mặt tiêu cực, về ảnh hưởng của sự lạm dụng, sự bỏ bê và những trải nghiệm bất lợi khác tới sự phát triển của trẻ em, cũng như sự cần thiết của những can thiệp nhạy cảm (thân thiện) với trẻ để từ đó có những sự bảo vệ tốt. Trong khi đó, là quốc gia đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em, với những yêu cầu mà các văn kiện pháp lý quốc tế về điều tra, xử lý những vụ án trẻ em/người chưa thành niên (NCTN) phạm tội hoặc bị tổn thương bởi tội phạm, Việt Nam sẽ tiếp cận mô hình điều tra thân thiện (ĐTTT) với các thủ tục tố tụng hình sự thân thiện như thế nào?liệu rằng quyền của NCTN có được đảm bảo một cách tốt nhât hay không? Để hiểu rõ hơn về vấn đề này em xin chọn “Đề bài số 7: Hãy trình bày về quyền của người chưa thành niên được đảm bảo một cách tốt nhất trong quá trình áp dụng các thủ tục tố tụng hình sự thân thiện? Theo em, các quyền của người chưa thành niên trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã đáp ứng các chuẩn mực quốc tế chưa? Tại sao?” làm bài tập học kì, với hiểu biết còn hạn chế nên khó tránh khỏi những sai sót mong thầy cô sửa chữa, góp ý để những bài làm sau của em được tốt hơn.
CHƯƠNG I: QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN ĐƯỢC ĐẢM BẢO MỘT CÁCH TỐT NHẤT TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC THỦ TỤC TỐ TỤNG HÌNH SỰ THÂN THIỆN
Quy tắc số 7 của Quy tắc Bắc Kinh đã chỉ rõ: “trong tất cả các giai đoạn tố tụng, cần bảo đảm các biện pháp bảo vệ mang tính thủ tục cơ bản,..quyền kháng cáo lên một cơ quan có thẩm quyền cao hơn”. Quy tắc số 7 đã nhấn mạnh một số điểm quan trọng được xem là những yếu tố cơ bản bảo đảm cho quá trình xét xử được công bằng, bình đẳng, và những điểm này đã được quốc tế công nhận trong những văn kiện hiện hành về quyền con người. Trên tinh thần của nội dung quy tắc này, BLTTHS Việt Nam cũng quy định cho người chưa thành niên có các quyền đặc biệt, bên cạnh những quyền chung được áp dụng đối với người thành niên, với điều kiện các quy định khác không trái với quy định đặc biệt này. Theo đó, BLTTHS Việt Nam năm 2015 chia người chưa thành niên thành hai nhóm chủ thể được hưởng các quyền đặc biệt đó là người bị buộc tội là người chưa thành niên và bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên.
1.1. Quyền của người bị buộc tội là người chưa thành niên
Người bị buộc tội là người chưa thành niên có quyền được áp dụng các thủ tục tố tụng đặc biệt theo hướng đảm bảo tốt nhất các quyền và lợi cho họ. Ngoài ra họ còn được đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp khác theo thủ tục tố tụng chung quy định cho người bị người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật tố tụng hình sự nói chung như quy định tại các Điều 59, 60, 61 BLTTHS năm 2015, người chưa thành niên bị buộc tội được pháp luật quy định thủ tục đặc biệt được quy định tại chương XXVIII BLTTHS năm 2015 với 17 điều luật (từ Điều 413 đến Điều 430). Dựa trên các điều luật đó, pháp luật nhấn mạnh một số quyền mà người bị buộc tội là người chưa thành niên được hưởng trong các quá trình tố tụng khác nhau, đó là : quyền sự tham gia tố tụng của người đại diện nhà trường, gia đình, tổ chức; quyền bào chữa , quyền được trợ giúp pháp lý.
– Quyền có sự tham gia tố tụng của người đại diện nhà trường, gia đình, tổ chức Điều 420 BLTTHS năm 2015 quy định: “Người đại diện của người dưới 18 tuổi, thầy giáo, cô giáo, đại diện của nhà trường,..Viện kiểm sát, Toà án”. Đây là điều luật nhằm khẳng định và đảm bảo quyền có sự tham gia của đại diện gia đình nhà trường, tổ chức của người chưa thành niên bị buộc tội, thể hiện nguyên tắc nhân đạo và sự nhận thức sâu.
– Quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp Hiến pháp năm 2013 quy định “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” (Điều 31). Quyền bào chữa trước hết là quyền tự bào chữa của người bị buộc tội. Người bị buộc tội có quyền đưa ra các lý lẽ, chứng cứ theo quy định của pháp luật để chứng minh sự vô tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và bác bỏ một phần hay toàn bộ cáo buộc để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong tất cả các giai đoạn trong quá trình tố tụng. Quyền tự bào chữa được quy định, nhấn mạnh tại Điều 16 BLTTHS năm 2015. Xuất phát từ nguyên tắc này Điều 59, 60, 61 BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể, chi tiết quyền tự bào chữa của người bị buộc tội. Người bị buộc tội là người chưa thành niên tuy còn có nhiều hạn chế về nhận thức, về hiểu biết pháp luật, vốn sống còn ít ỏi nhưng bản thân họ lại là người nắm rõ những tình tiết, nội dung liên quan đến sự việc, vụ án. Cho nên, họ cũng có thể trình bày ý kiến và đưa ra những quan điểm của mình trong quá trình tố tụng, nhận thức rõ điều đó Tại Khoản 4 Điều 414 BLTTHS năm 2015 quy định nguyên tắc: “Tôn trọng quyền được tham gia, trình bày ý kiến của người dưới 18 tuổi”, điều này thể hiện sự nghiêm minh, toàn diện của pháp luật. Quyền tự bào chữa của bị cáo là người chưa thành niên được thể hiện rõ trong quá trình tranh luận, đối đáp tại phiên toà. Dựa trên Khoản 2 Điều 320 BLTTHS năm 2015 đều quy định về trình tự phát biểu khi tranh luận trong đó, bị cáo là người chưa thành niên có quyền trình bày cũng như bổ sung ý kiến bào chữa của mình. Không những được trình bày, phát biểu ý kiến về bào chữa bị cáo còn được pháp luật trao cho quyền đối đáp, tranh luận với bên buộc bội để bảo vệ quyền và lợi ích của mình: “Bị cáo, người bào chữa và… để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ buộc tội, gỡ tội” (Khoản 1 Điều 322 BLTTHS năm 2015). Như vậy, bị cáo có quyền tự mình đưa ra những chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình trước sự buộc tội của Đại diện Viện kiểm sát và các ý kiến bất lợi từ phái người tham gia tố tụng, người bị hại trong vụ án hình sự. Không chỉ quy định các quyền tự bào chữa của người bị buộc tội, đặc biệt là người bị buộc tội là người chưa thành niên, pháp luật còn quy định nhiều cơ chế để đảm bảo việc thực hiện quyền sao cho đầy đủ, đúng pháp luật, bằng cách quy định cụ thể nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng phải giải thích cho họ về các quyền, nghĩa vụ của họ, trong đó có quyền tự bào chữa tại Khoản 3 Điều 117, Khoản 5 Điều 179, Khoản 2 Điều 183, Khoản 3 Điều 301. Quyền nhờ người khác bào chữa là một trong những quyền bào chữa của người chưa thành niên bị buộc tội. Họ cần có người có khả năng, kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ chuyên môn để bào chữa cho mình, do đó pháp luật quy định họ có quyền nhờ những người khác được pháp luật công nhận để bào chữa cho mình: Luật sư; Người đại diện hợp pháp; Bào chữa viên nhân dân theo BLTTHS năm 2003 và thêm một chủ thể được bổ sung tại Điều 72 BLTTHS năm 2015 là “Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý”. Những người này sẽ tham gia trong quá trình tố tụng để nhằm bác bỏ toàn bộ hay một phần sự buộc tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Tại Điều 16, 59, 60 và 61 BLTTHS năm 2015 đã quy định rất rõ quyền được nhờ người bào chữa của người bị buộc tội nói chung trong pháp luật tố tụng hình sự. BLTTHS năm 2015 tại Khoản 1 Điều 76; Điều 422 vẫn quy định về quyền có người bào chữa của người chưa thành niên, tuy nhiên đã mở rộng hơn chủ thể có thẩm quyền mời người bào chữa cho bị can, bị cáo là người chưa thành niên : “Trong những trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ”. Theo đó, điểm a Điều 4 BLTTHS năm 2015 có giải thích: “Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra”. Như vậy, chủ thể có thẩm quyền đã được mở rộng, điều này góp phần bảo đảm quyền có người bào chữa của người chưa thành niên được thực hiện đầy đủ, nhanh chóng và kịp thời hơn.
1.2. Quyền của bị hại là người chưa thành niên
Bị hại là trẻ em dưới 18 tuổi thường là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần trong những vụ án về các loại tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, các vụ án xâm hại tình dục… Các em là những người chưa có đủ khả năng tự bảo vệ mình trước các hành vi xâm hại và trước các cơ quan bảo vệ pháp luật. Khả năng nhận thức còn hạn chế nên họ không thể tự mình bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng được. Do vậy chủ thể này đều cần được pháp luật bảo đảm các quyền và lợi ích tốt nhất khi họ tham gia tố tụng. Các quyền đặc biệt của người bị hại dưới 18 tuổi đó là quyền được áp dụng các thủ tục tố tụng đặc biệt; quyền có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; quyền có đại diện, nhà trường, tổ chức tham dự… và các quyền khác theo thủ tục tố tụng hình sự chung không trái với các quyền đặc biệt này. Một số hành vi xâm phạm đến trẻ em được pháp luật hình sự quy định thành các tội phạm độc lập, chế tài hình phạt nghiêm khắc hơn nhiều so với hành vi cùng loại nhưng xâm hại đến người thành niên.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/quyen-cua-nguoi-chua-thanh-nien-duoc-dam-bao-mot-cach-tot-nhat-trong-qua-trinh-ap-dung-cac-thu-tuc-to-tung-hinh-su-than-thien/
[xyz-ihs snippet=”B0183″]
