THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 26 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0106.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RÚT YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ | 4 |
| 1.1. Các yêu cầu của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự | 4 |
| 1.1.1. Quy định về yêu cầu khởi kiện | 4 |
| 1.1.2. Các quy định về yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập | 6 |
| 1.2. Rút yêu cầu của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự | 12 |
| 1.2.1. Rút yêu cầu khởi kiện mà không có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập | 14 |
| 1.2.2. Rút yêu cầu khởi kiện mà có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập | 15 |
| Kết luận chương 1 | 15 |
| CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ RÚT YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ | 16 |
| 2.1. Một số bất cập khi thực hiện việc rút yêu cầu của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự | 16 |
| 2.2. Những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về rút yêu cầu của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự | 19 |
| Kết luận chương 2 | 20 |
| KẾT LUẬN | 21 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 22 |
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Trong quá trình tham gia các quan hệ dân sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm thì có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ. Bằng phương thức khởi kiện, đương sự đã bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, đương sự có quyền quyết định các hành vi tố tụng tiếp theo, đương sự có quyền tự định đoạt việc thay đổi, bổ sung hay rút yêu cầu của mình vì nhiều nguyên nhân như sự việc có biến chuyển, các bên thỏa thuận được với nhau một số hay toàn bộ vấn đề tranh chấp hay các tác động khác dẫn đến thay đổi mong muốn. Nhưng tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng mà việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu có thể được Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận. Trong trường hợp rút yêu cầu của đương sự, đây là điểm mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 so với Bộ luật cũ là Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 đã khắc phục được những vướng mắc, bất cập của pháp luật trong thực tiễn đặc biệt trường hợp đương sự rút yêu cầu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Tuy nhiên, việc nhận thức của người dân nói chung và của đương sự nói riêng khi tham gia vào tố tụng còn hạn chế, tôi đã chọn đề tài “Rút yêu cầu của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự” với mong muốn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về trường hợp đương sự rút yêu cầu khởi kiện, ngoài ra làm rõ những vướng mắc, bất cập, từ đó góp phần kiến nghị hoàn thiện những quy định của pháp luật.
Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến đề tài, đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh khác nhau về rút yêu cầu của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự. Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu và bài viết có liên quan như sau:
“Bình luận những điểm mới trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015” của tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam xuất bản năm 2016. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã đánh giá những điểm mới trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, so sánh với Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 trong đó có nêu những điểm mới liên quan đến rút yêu cầu của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Luận văn thạc sĩ luật “Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Đinh Kim Huệ, bảo vệ năm 2013 Đại học Luật TP.HCM. Trong công trình này, tác giả tập trung nghiên cứu quyền định đoạt của đương sự, tuy dựa trên văn bản pháp luật không còn hiệu lực, đã được thay thế bằng văn bản khác, nhưng công trình này đưa ra được những chủ yếu của rút yêu cầu khởi kiện của đương sự, từ đó có cái nhìn nhiều khía cạnh về sự phát triển của rút yêu cầu khởi kiện của đương sự.
Ngoài ra còn có một số bài viết trên trang điện tử của Tòa án như là “Một số vướng mắc khi đương sự rút một phần yêu cầu khởi kiện trong tố tụng dân sự” của tác giả Nguyễn Minh Tân trên Trang thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, “Vướng mắc phát sinh từ thực tiễn áp dụng khoản 2 Điều 217 BLTTDS 2015” của tác giả Nguyễn Văn Dũng trên Trang thông tin điện tử Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ. Các bài viết đã đưa ra được việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn, từ đó phát hiện những vướng mắc và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.
Với tình hình trên, tiểu luận về đề tài “Rút yêu cầu của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự” đã nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về rút yêu cầu của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2019.
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài chú trong nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, đề tài tập trung nghiên cứu những quy định cụ thể về rút yêu cầu của đương sự và giới hạn ở trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự mà không hướng đến nghiên cứu ở các giai đoạn khác
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về rút yêu cầu của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự. Bên cạnh việc nghiên cứu các quy định pháp luật về rút yêu cầu khởi kiện của đương sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2019, đề tài này còn hướng đến việc phân tích, đánh giá vấn đề trên phương diện thực tế áp dụng.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với chủ chương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta trong chiến lược cải cách tư pháp. Cụ thể trong từng chương, các phương pháp nghiên cứu được vận dụng như là phương pháp phân tích chứng minh, phương pháp diễn giải, phương pháp tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong toàn tiểu luận.
Trong Chương 1, các phương pháp được sử dụng để thể hiện nội dung rút yêu cầu của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Trong Chương 2 thì các phương pháp này đã phát huy hiệu quả trong việc trinh bày những vướng mắc, bất cập của pháp luật tố tụng dân sự liên quan đến việc rút yêu cầu khởi kiện của đương sự nhằm đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của tiểu luận gồm 02 chương:
Chương 1: Tổng quan về rút yêu cầu của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Chương 2: Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về rút yêu cầu của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RÚT YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1. Các yêu cầu của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
1.1.1. Quy định về yêu cầu khởi kiện
Trong một quan hệ dân sự, khi các bên tham gia quan hệ nhận thấy lợi ích của mình bị xâm phạm, xảy ra tranh chấp mà không thể tự hòa giải được, lúc này phương thức giải quyết tranh chấp hữu hiệu mà các bên thường lựa chọn đó là khởi kiện tại Tòa án. Theo Điều 186 BLTTDS 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2019 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.” Từ đó, pháp luật TTDS đã chính thức thừa nhận quyền khởi kiện của các chủ thể. Hành vi khởi kiện là sự khởi đầu của quá trình tố tụng tại Tòa án, các chủ thể khi thực hiện việc khởi kiện và vụ án được Tòa án thụ lý thì họ sẽ tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn cũng được gọi là đương sự[1] trong vụ án dân sự.
Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sư theo quy định của pháp luât thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện. Hay trong các trường hơp đối với những cá nhân không đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm đơn khởi kiện vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ sẽ làm đơn khởi kiện vụ án. Như vậy, tất cả các nguyên đơn đều phải tự mình thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án theo quy định, hoặc có thể nhờ người khác hay người đại diện hợp pháp của họ thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án theo quy định. Và thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự dựa trên các trình tự và thủ tục do pháp luật quy định.
Về phạm vi khởi kiện của vụ án dân sự đượng quy định tại Điều 188 BLTTDS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2019 hướng dẫn cụ thể và chi tiết tại Điều 4 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ dung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự đã giải thích được coi là “nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau” để giải quyết trong cùng một vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:
Việc giải quyết quan hệ pháp luật này đòi hỏi phải giải quyết đồng thời quan hệ pháp luật khác.
Ví dụ: A khởi kiện yêu cầu Toà án buộc B phải trả lại quyền sử dụng đất. Đồng thời, A khởi kiện yêu cầu Toà án buộc C phải tháo dỡ công trình mà C đã xây dựng trên đất đó.
Việc giải quyết các quan hệ pháp luật có cùng đương sự và về cùng loại tranh chấp.
Ví dụ: A khởi kiện yêu cầu Toà án buộc B phải trả nợ 100 triệu đồng. Đồng thời, A còn khởi kiện yêu cầu Toà án buộc B phải trả lại chiếc xe ôtô mà B thuê của A do đã hết thời hạn cho thuê.
Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 5 của BLTTDS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2019 thì: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”. Theo quy định này, đương sự có quyền quyết định phạm vi yêu cầu để Tòa án xem xét, giải quyết, đồng thời Tòa án chỉ xem xét giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện của đương sự. Như vậy, phạm vi khởi kiện của đương sự được thể hiện trong đơn khởi kiện. Thẩm phán khi được phân công giải quyết vụ án phải xác định đúng và đầy đủ yêu cầu của đương sự trong vụ án.
Tuy nhiên, trên thực tế có một số vụ án khi xét sơ thẩm bị Tòa án cấp trên hủy bản án với lý do:
– Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vượt quá phạm vi khởi kiện của đương sự.
Ví dụ: trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn trả lại phần đất diện tích 300 m2. Trong quá trình giải quyết vụ án, sau khi xem xét thẩm định tại chỗ thì phần đất tranh chấp là 400 m2. Tòa án cấp sơ thẩm không hướng dẫn nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện nhưng Tòa án lại giải quyết buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn phần đất diện tích 400 m2 là vượt quá phạm vi khởi kiện của nguyên đơn;
– Hoặc Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết hết yêu cầu khởi kiện của đương sự.
Ví dụ: Trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn trả lại số tiền vay còn là 50 triệu đồng và tiền lãi của số tiền vay còn nợ. Khi xét xử Tòa án chỉ giải quyết buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền vay còn nợ mà không xem xét đến yêu cầu tính lãi của nguyên đơn là giải quyết không hết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn…
[1] Khoản 1 Điều 68 BLTTDS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2019: “Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan …”.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/rut-yeu-cau-cua-duong-su-trong-giai-doan-chuan-bi-xet-xu-so-tham-vu-an-dan-su/
[xyz-ihs snippet=”B0106″]
