THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 65 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0066.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Lao động năm 2019.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Các quy định mới theo Bộ luật Lao động năm 2019 về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi của người lao động thực tiễn áp dụng tại các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội 3 cac quy dinh moi theo bo luat lao dong 2019 ve thoi gio lam viec va thoi gio nghi ngoi cua nguoi lao dong 3](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/cac-quy-dinh-moi-theo-bo-luat-lao-dong-2019-ve-thoi-gio-lam-viec-va-thoi-gio-nghi-ngoi-cua-nguoi-lao-dong-3.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Lý do chọn đề tài | 1 |
| 2. Mục đích - mục tiêu nghiên cứu | 2 |
| 3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu | 2 |
| 4. Tình hình nghiên cứu đề tài | 2 |
| 5. Kết cấu của đề tài | 3 |
| CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC VÀ THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI | 5 |
| 1.1. Khái quát về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi | 5 |
| 1.1.1. Các khái niệm cơ bản | 5 |
| 1.1.2. Cơ sở khoa học của những quy định về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi | 6 |
| 1.2. Một số quy định chung | 7 |
| 1.2.1. Pháp luật về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi | 7 |
| 1.2.2. Xử phạt vi phạm | 15 |
| 1.3. Đánh giá các quy định pháp luật trong Bộ luật Lao động năm 2019 về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi | 16 |
| 1.3.1. Một số quy định mới theo Bộ luật Lao động năm 2019 về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi | 16 |
| 1.3.2. Đánh giá các quy định trong Bộ luật Lao động năm 2019 | 21 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC VÀ THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI TẠI CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM | 32 |
| 2.1. Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi tại các doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam | 32 |
| 2.1.1. Khái quát về ngành dệt may Việt Nam và đặc điểm sử dụng lao động của các doanh nghiệp | 33 |
| 2.1.2. Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi tại các doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam | 34 |
| 2.2. Đánh giá thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Hà Nội | 43 |
| 2.2.1.Thành tựu đạt được | 43 |
| 2.2.2. Hạn chế, tồn tại | 44 |
| CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC VÀ THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI | 48 |
| 3.1. Phương hướng hoàn thiện | 48 |
| 3.1.1. Tăng cường hoàn thiện, đổi mới pháp luật để phù hợp với tiêu chuẩn và xu hướng quốc tế hiện nay | 48 |
| 3.1.2. Hoàn thiện pháp luật dựa trên bối cảnh thực tế của các ngành nghề | 49 |
| 3.1.3. Tăng cường đảm bảo thực thi đúng pháp luật về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi tại các doanh nghiệp | 49 |
| 3.1.4. Xây dựng cơ chế thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động để đảm bảo lợi ích hợp pháp của hai bên, nhất là đối với người lao động | 51 |
| 3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật | 53 |
| 3.3. Một số giải pháp cho Việt Nam | 57 |
| 3.3.1. Đối với công ty | 57 |
| 3.3.2. Đối với người lao động | 58 |
| 3.3.3. Đối với cơ quan quản lý Nhà nước về lao động | 59 |
| 3.3.4. Các Công Đoàn, tổ chức bảo vệ quyền lợi người lao động | 60 |
| KẾT LUẬN | 61 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế nước ta đã trải qua từng thời kỳ phát triển khác nhau, ngày càng tiến bộ, hiện đại hơn, trong đó một yếu tố có vai trò chủ đạo xuyên suốt đã góp phần không hề nhỏ vào thành công ấy chính là nguồn nhân lực. Ở bất kỳ giai đoạn nào, NLĐ luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế, để kinh tế đi lên một cách bền vững thì tất yếu phải đảm bảo được năng suất của NLĐ. Muốn vậy, phải đảm bảo quyền lợi cho NLĐ, tạo động lực thúc đẩy họ làm việc tạo ra những sản phẩm chất lượng cao và năng suất ổn định. Mặt khác, sức lao động của con người là có giới hạn nên NLĐ có quyền được nghỉ ngơi và được sắp xếp một khoảng thời gian làm việc phù hợp.Nếu NLĐ bị tăng thời gian làm việc nhưng lại giảm thời gian nghỉ ngơi thì không chỉ ảnh hưởng đến bản thân NLĐ mà còn có tác động tiêu cực đến nền kinh tế.
Quyền lao động và nghỉ ngơi là quyền lợi hợp pháp của NLĐ và rất được coi trọng. Pháp luật Việt Nam cũng rất quan tâm đến vấn đề này, được thể hiện thông qua BLLĐ, các văn bản hướng dẫn thi hành về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của NLĐ. Xã hội ngày càng đi lên thì yêu cầu về quyền lợi của NLĐ cũng ngày càng được nâng cao hơn. Thời giờ làm việc và nghỉ ngơi của NLĐ đang được chú trọng hơn nữa bởi nó liên quan thiết thực với cuộc sống của NLĐ. Vì thế, pháp luật luôn phải sửa đổi để bắt kịp với bối cảnh, thực trạng hiện nay và khắc phục những hạn chế còn tồn đọng ở quy định cũ, hướng tới việc đảm bảo quyền lợi cao nhất cho NLĐ. Gần đây nhất chính là BLLĐ năm 2019 đã sửa đổi và bổ sung hoàn thiện hơn trong quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi so với BLLĐ năm 2012. Tuy nhiên, hiện vẫn còn một số bất cập trong việc áp dụng những điểm mới của BLLĐ năm 2019 về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại các doanh nghiệp. Vậy nên cần phải có những giải pháp để khắc phục những hạn chế đó và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi.
Vì những lý do trên, nhóm tác giả đã chọn đề tài: “Các quy định mới theo Bộ luật lao động 2019 về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi của người lao động thực tiễn áp dụng tại các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội.”
2. Mục đích – mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu là nhằm chỉ ra những thiếu sót trong thực tiễn áp dụng những điểm mới trong BLLĐ năm 2019 về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi để từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi.
Mục tiêu tổng quan là tìm hiểu chi tiết thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định mới về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi tại các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội cụ thể là nghiên cứu, phân tích các quy định trong BLLĐ năm 2019 so với 2012 về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi và thực tiễn áp dụng có hợp lý theo pháp luật không.
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: BLLĐ năm 2019 và quy định về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi của các doanh nghiệp tư nhân ở Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu: Thành phố Hà Nội và các BLLĐ năm 2012 và 2019. Ngoài ra sẽ nghiên cứu các bộ luật trong nước và quốc tế có liên quan đến đề tài.
4. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề về lao động đặc biệt là về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi dành được rất nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu, các nhà làm luật… Chính vì thế có khá nhiều công trình nghiên cứu, bài báo về vấn đề này. Điển hình như: công trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ Luật học của Cử nhân Dương Thị Hồng Nhung với đề tài “Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và thực tiễn thi hành tại Công ty TNHH Xây dựng SAMWOO Việt Nam” hay Luận văn thạc sĩ Luật học của Cử nhân Nguyễn Diệu Linh cùng đề tài “Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và thực tiễn thi hành tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Xây dựng Hà Nội”, cả hai công trình nghiên cứu đều được thực hiện năm 2019 trước khi BLLĐ năm 2019 ra đời, và được làm trong quá trình Hội thảo để hoàn thiện BLLĐ năm 2019, chính vì thế hai công trình đã nêu rất sát những vấn đề còn tồn đọng trong BLLĐ năm 2019 về thời giờ làm việc, thời giờ làm thêm, thời giờ nghỉ giữa buổi hay thời giờ nghỉ lễ và cũng đã đề xuất rất nhiều những kiến nghị, giải pháp phù hợp với sự phát triển của đất nước như là giảm thời giờ làm việc, tăng thời giờ làm thêm, nghỉ ngơi… hay có quy định đối với thời giờ làm việc của NLĐ cao tuổi và BLLĐ năm 2019 cũng có một số điều chỉnh khớp với kiến nghị của các công trình này. Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều các bài báo, tạp chí nói bình luận về các quy định pháp luật liên quan đến thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi điển hình là bài viết của tác giả Nguyễn Hiền Phương đăng trên Tạp chí Luật học số 12/2018 đã nhìn nhận và đánh giá rất thẳng thắn về các vấn đề tồn đọng của BLLĐ năm 2012. Tuy nhìn tất cả những bài nghiên cứu, bài viết trên đều được thực hiện trước khi BLLĐ năm 2019 ra đời và chỉ tập trung vào thực trạng tại một doanh nghiệp cụ thể và sau khi BLLĐ năm 2019 ra đời và có hiệu lực, có rất ít các công trình nghiên cứu phân tích về những ưu điểm của Bộ Luật này và chỉ ra những vấn đề còn tồn tại. Hầu như những vấn đề về BLLĐ năm 2019 chỉ được nêu ra trong các cuộc Hội thảo, trên các trang báo điện tử.
Chính vì thế nhóm tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài: “Các quy định mới theo Bộ luật Lao động năm 2019 về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi của người lao động – Thực tiễn áp dụng tại các doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam” để tập trung phân tích các điểm mới của BLLĐ năm 2019 so với BLLĐ năm 2012 và chỉ ra những ưu điểm của nó, những bất cập vẫn còn tồn đọng; bên cạnh đó, chỉ ra thực tiễn áp dụng các quy định trong một ngành nghề cụ thể, ở diện rộng các công ty trong ngành đó – ngành dệt may, một trong những ngành trọng điểm của Việt Nam để từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp phù hợp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định tại các doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam.
5. Kết cấu của đề tài
Chương 1: Lý luận chung về pháp luật lao động liên quan đến thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi
Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi tại các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 3: Hoàn thiện quy định pháp luật về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi.
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC VÀ THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI
1.1. Khái quát về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
Trong quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ thì thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi thuộc hai phạm trù khác nhau nhưng lại có mối liên quan mật thiết với nhau, tạo thành một thể thống nhất, không thể tách rời trong luật lao động. Xuyên suốt quá trình phát triển của lịch sử thì các vấn đề liên quan tới lao động và sản xuất luôn được các quốc gia chú trọng tới, trong đó phải kể đến chế độ làm việc và chế độ nghỉ ngơi của NLĐ. Bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế cùng sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay khiến nhu cầu cần đáp ứng về làm việc và nghỉ ngơi trở nên cấp hơn bao giờ hết, đặc biệt là những người làm luật.
Trong phạm trù khoa học kinh tế lao động, thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi được xem xét dưới góc độ tổ chức quá trình lao động khi đặt trong mối quan hệ hữu cơ với năng suất, chất lượng, hiệu quả của mỗi một NLĐ. Theo đó, thời giờ làm việc chính là khoảng thời gian để NLĐ có thể giải quyết toàn bộ các mục tiêu và hạn định được giao cho. Còn thời giờ nghỉ ngơi là khoảng thời gian cần thiết để NLĐ quay trở lại tiếp tục làm việc, tái sản xuất và hoàn thành hao phí nhằm đảm bảo quá trình lao động được diễn ra liên tục, kịp tiến độ.
Còn đối với góc độ pháp lý, thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi được biểu hiện dưới dạng quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật lao động. Quan hệ này thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm giữa NLĐ và NSDLĐ. Như vậy ta có thể hiểu một cách đơn giản rằng:
Thời giờ làm việc là “khoảng thời gian do pháp luật quy định trong đó người lao động làm thuê được đặt dưới sự sắp đặt của người sử dụng lao động; không bao gồm thời giờ nghỉ ngơi mà người lao động không nằm dưới sự sắp đặt của người sử dụng lao động phù hợp với hợp đồng các bên liên quan”.
Thời giờ nghỉ ngơi là”khoảng thời gian trong đó người lao động không phải thực hiện những nghĩa vụ lao động và có quyền sử dụng thời gian đó theo ý muốn của mình”.
Là một chế định pháp luật, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi bao gồm tổng thể các quy định pháp luật quy định về thời gian NLĐ phải làm việc, phải thực hiện nhiệm vụ được giao và những khoảng thời gian cần thiết để NLĐ được nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe và tái sản xuất sức lao động của mình.
Tóm lại, dù thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi có được nghiên cứu dưới góc độ gì đi nữa thì mục đích chính của việc nghiên cứu đó cũng là để tìm ra một thời giờ làm việc hợp lý, một thời gian nghỉ ngơi thích hợp nhằm tăng năng suất lao động đồng thời bảo vệ sức khỏe cho NLĐ.
1.1.2. Cơ sở khoa học của những quy định về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi
Hiện nay, việc hội nhập kinh tế và sự hợp tác phát triển giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ ngày càng được chú trọng và đầu tư. Sự xuất hiện của các công ty, doanh nghiệp, công ty đa quốc gia trở nên ngày một nhiều với số lượng gia tăng nhanh chóng. Song, đi cùng với sự tăng trưởng đó là việc đáp ứng nhu cầu hay giải quyết những vấn đề thiết yếu cho NLĐ; có thể ví dụ như thời giờ làm việc hay thời giờ nghỉ ngơi. Chính vì vậy, trong suốt chiều dài lịch sử của quá trình phát triển cho đến nay, việc đảm bảo thời giờ nghỉ ngơi hợp lý là mục tiêu mà pháp luật nhiều nước trên thế giới theo đuổi. Không thể không kể đến Tổ chức lao động quốc tế (ILO) có khá nhiều công ước về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi của NLĐ (Công ước số 106 năm 1957, Công ước số 132 năm 1970…) nhằm khuyến khích các công ty, doanh nghiệp cung cấp điều kiện làm việc tốt nhất có thể, bao gồm thời gian làm việc phù hợp với khuôn khổ chính sách của chính phủ hiện hành. Và những điều kiện này phải liên quan đến vị trí kinh tế của doanh nghiệp trong bối cảnh hiện tại.
Như đã nêu ở phần trên, pháp luật Việt Nam có quy định khá đầy đủ và chặt chẽ về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi của NLĐ; nhằm mục đích đáp ứng một môi trường lao động lành mạnh, phù hợp mà không ảnh hưởng đến sản xuất hay phát triển kinh tế. Tùy từng trường hợp đặc biệt mà NLĐ có thể được hưởng một số quyền lợi trong thời gian nghỉ ngơi theo quy định của pháp luật. Để có thể đưa ra các quy định hợp lý như vậy thì các nhà làm Luật không chỉ căn cứ vào những cơ sở pháp lý hay cơ sở kinh tế – xã hội mà còn phải quan tâm đến cơ sở khoa học liên quan tới NLĐ:
Để tồn tại, con người phải lao động. Tuy nhiên, về mặt sinh học, lao động với nội dung và hình thức nào thì cũng là sự tiêu hao trí não, thần kinh, cơ bắp, cơ quan cảm giác… nên đến một giới hạn nhất định sẽ xuất hiện cảm giác mệt mỏi, kiệt sức, do đó, phải có giới hạn để đảm bảo khả năng nghỉ ngơi và phục hồi
Mặt khác, dưới góc độ tâm lý, trong hoạt động lao động không tránh khỏi mệt mỏi tâm lý do sự tri giác quá lâu, các cơ quan nhạy cảm bị ức chế dẫn đến cảm giác nhàm chán, đơn điệu, thiếu hứng thú làm việc. Để giải tỏa hiện tượng đó cũng đòi hỏi phải chuyển sự chú ý của hệ thần kinh sang loại hoạt động khác mang tính tự do, càng khác với hoạt động lao động càng tốt
Như vậy, thời giờ làm việc là có giới hạn và yêu cầu được nghỉ ngơi là nhu cầu sinh lý tự nhiên. Từ đó đòi hỏi phải có sự bố trí thời giờ lao động và nghỉ ngơi hợp lý, đảm bảo nhu cầu tự nhiên của con người và hiệu quả của lao động
1.2. Một số quy định chung
1.2.1. Pháp luật về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi
1.2.1.1. Thời giờ làm việc
Căn cứ vào các quy định của pháp luật, nội dung về thời giờ làm việc được quy định tại Điều 105 đến Điều 108 Bộ luật Lao động năm 2019 và điều 3; 4 tại Nghị định 45/2013/NĐ-CP. Căn cứ vào Bộ luật Lao động thì ta có thể chia thời giờ làm việc ra thành 2 loại là: Thời giờ làm việc bình thường và làm thêm giờ quy định lần lượt tại Điều 105 và điều 107 của bộ luật. Đầu tiên, ta xét tới thời giờ làm việc bình thường: Căn cứ theo điều 105 Bộ luật Lao động năm 2019 có quy định…
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)