THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 37 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0024.
- Pháp luật áp dụng: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Công chứng năm 2014.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Đánh giá thực trạng công chứng các văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng trên một số địa bàn (9.0 điểm) (MS-B0024) 3 cong chung cac van ban thoa thuan ve che do tai san cua vo chong tren mot so dia ban 3](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/cong-chung-cac-van-ban-thoa-thuan-ve-che-do-tai-san-cua-vo-chong-tren-mot-so-dia-ban-3.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN VÀ VIỆC CÔNG CHỨNG CÁC VĂN BẢN THỎA THUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG | 3 |
| 1.1. Pháp luật Việt Nam về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận | 3 |
| 1.1.1. Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng | 3 |
| 1.1.2. Sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng | 4 |
| 1.1.3. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu | 6 |
| 1.2. Công chứng | 8 |
| 1.3. Một số quy định chung về công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng | 9 |
| 1.3.1. Thủ tục chung về công chứng hợp đồng, giao dịch | 9 |
| 1.3.2. Thời hạn và địa điểm công chứng | 10 |
| 1.3.3. Tiếng nói, chữ viết và việc ghi trang, tờ trong văn bản công chứng | 10 |
| 1.3.5. Công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ giao dịch | 11 |
| 1.3.6. Người được đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu | 11 |
| 1.3.7. Thủ tục công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng | 12 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRONG VIỆC CÔNG CHỨNG CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG | 14 |
| 2.1. Bản án 311/2021/DS-PT ngày 15/07/2021 về tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu | 14 |
| 2.1.1. Nội dung bản án | 14 |
| 2.1.2. Nhận định của Toà án về bản án | 15 |
| 2.1.3. Đánh giá bản án | 16 |
| 2.2. Bản án 1054/2018/DS-PT ngày 16/11/2018 về tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu | 17 |
| 2.2.1. Nội dung của bản án | 17 |
| 2.2.2. Nhận định và quyết định của tòa án về bản án | 21 |
| 2.2.3. Đánh giá bản án | 22 |
| 2.2.3. Đánh giá bản án | 23 |
| 2.3. Bản án 03/2018/HNGĐ-PT ngày 15/01/2018 về yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn | 23 |
| 2.3.1. Nội dung của bản án | 23 |
| 2.3.2. Nhận định của Tòa án về bản án | 25 |
| 2.2.3. Đánh giá bản án | 26 |
| CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG CÁC VĂN BẢN THỎA THUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG | 27 |
| 3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng | 27 |
| 3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng theo yêu cầu xã hội hóa hoạt động công chứng | 28 |
| KẾT LUẬN | 31 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 32 |
LỜI MỞ ĐẦU
Đối với việc chứng nhận các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng, công chứng viên phải hiểu biết và vận dụng tốt các quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng, pháp luật dân sự, đất đai, hộ tịch… đồng thời phải có kỹ năng nghề nghiệp tốt, tuân thủ thủ tục công chứng được quy định trong Luật Công chứng và các văn bản pháp luật có liên quan.
Thực tiễn áp dụng việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng ở nước ta thời gian qua đã có nhiều quan điểm, nhận thức đánh giá khác nhau giữa các tổ chức hành nghề công chứng, giữa các công chứng viên; và đến nay cũng chưa có sự hướng dẫn thống nhất từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điều đó dẫn đến tình trạng cùng một vụ việc, có công chứng viên từ chối công chứng nhưng có thể lại có công chứng viên khác thực hiện việc chứng nhận. Do đó việc phân tích, đánh giá một cách tổng hợp các quy định pháp luật hiện hành về công chứng các văn bản thoả thuận liên quan đến tài sản của vợ chồng và thực trạng áp dụng các quy định đó, từ đó đưa ra được giải pháp khắc phục những bất cập, thiếu sót và tiếp tục hoàn thiện pháp luật về việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng là một việc làm rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, nhóm tác giả đã lựa chọn đề tài “Đánh giá thực trạng công chứng các văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng trên một số địa bàn”.
Xét về đề tài liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận và thủ tục công chứng văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu bao gồm các luận văn, luận án; các giáo trình, sách chuyên khảo; các bài viết trên tạp chí. Có công trình nghiên cứu trong phạm vi rộng, có công trình nghiên cứu chuyên sâu, nhưng vẫn chưa bắt kịp với sự thay đổi trên thực tế. Tiểu luận làm rõ nội dung các quy định của pháp luật về công chứng các văn bản thoả thuận liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng và thực tiễn áp dụng trên một số địa bàn. Từ đó nhóm tác giả đưa ra các đánh giá, các kiến nghị, giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng theo chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng mà Đảng và Nhà nước ta đề ra trong giai đoạn hiện nay.
Tiểu luận có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện các quy định pháp luật, góp phần nâng cao hoạt động công chứng của các tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam. Tiểu luận có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và học tập cho các học viên các lớp đào tạo nghiệp vụ công chứng, môn học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam. Tiểu luận cũng được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các công chứng viên khi thực hiện việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng.
CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN VÀ VIỆC CÔNG CHỨNG
CÁC VĂN BẢN THỎA THUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
1.1. Pháp luật Việt Nam về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận
1.1.1. Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng
1.1.1.1. Hình thức của thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng
Theo quy định: “Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận”[1]. Việc thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng dựa trên cơ sở lựa chọn theo một chế độ tài sản riêng biệt, hoàn toàn độc lập với chế độ tài sản theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn[2]. Theo đó, thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng thể hiện ý chí, nguyện vọng, quyền lợi cũng như trách nhiệm của vợ, chồng về vấn đề tài sản, cho nên thỏa thuận này phải được vợ, chồng lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực với chữ ký của hai bên có thể được gọi theo nhiều cách khác nhau như hôn ước, hợp đồng tiền hôn nhân hoặc thỏa thuận tài sản của vợ chồng.
Việc quy định như vậy làm tăng thêm tính chặt chẽ của văn bản thỏa thuận được xác lập, kiểm soát tính xác thực và tự nguyện của hai bên cũng như tạo cơ sở pháp lý vững chắc nhằm bảo vệ quyền lợi cho vợ, chồng cũng như đảm bảo cho vợ, chồng có trách nhiệm thực hiện đúng những nội dung đã thỏa thuận, hạn chế các xung đột, tranh chấp xảy ra liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng trong thực tế.
1.1.1.2. Nội dung của thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng:
Nội dung của văn bản thỏa thuận được quy định tại Điều 48 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 gồm: Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình; điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản; nội dung khác có liên quan[3].
Trong trường hợp thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định. Khi đó sẽ áp dụng quy định tại các điều 29, 30, 31, 32 của Luật này và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định. Theo đó, các quy định về chế độ tài sản theo luật định được 35 quy định từ Điều 29 đến Điều 32 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Những quy định về nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng tương đối chặt chẽ nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của các bên liên quan, ổn định trật tự về quan hệ tài sản của vợ, chồng trong xã hội, giúp tránh được những khó khăn có thể xảy ra trong quá trình soạn thảo nội dung thỏa thuận hay áp dụng.
1.1.2. Sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng
1.1.2.1. Về việc sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng
Điều 49 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Vợ chồng có quyền sửa đổi, bổ sung thỏa thuận về chế độ tài sản;
- Hình thức sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản theo thỏa thuận được áp dụng theo quy định tại Điều 47 của Luật này.”
Điều 17 Nghị định 126/2014/NĐ-CP đã cụ thể hóa quy định này như sau:
“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng thì trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận sửa đổi, bổ sung một phần hoặc toàn bộ nội dung của chế độ tài sản đó hoặc áp dụng chế độ tài sản theo luật định;
- Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.”
Theo các quy định trên, xuất phát từ thực tiễn và nhu cầu cuộc sống của vợ chồng, nếu có những nội dung trong văn bản thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng chưa rõ ràng hoặc có ảnh hưởng đến quyền lợi của vợ, chồng thì nhằm bảo đảm quyền định đoạt của vợ chồng đối với tài sản, pháp luật cho phép vợ chồng có quyền sửa đổi, bổ sung vào nội dung của văn bản thỏa thuận phù hợp với ý chí, nguyện vọng của mình và các quy định của pháp luật. Việc sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng không chỉ liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của vợ, chồng mà còn liên quan đến quyền lợi của người thứ ba.
Hiệu lực của thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng kể từ ngày đăng ký kết hôn, không phải từ ngày công chứng hoặc chứng thực nhưng hiệu lực của thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng lại có hiệu lực từ ngày được công chứng hoặc chứng thực.
1.1.2.2. Về hậu quả pháp lý của việc sửa đổi, bổ sung thỏa thuận
Điều 18 Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định:
“1. Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực từ ngày được công chứng hoặc chứng thực. Vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin liên quan theo quy định tại Điều 16 của Nghị định này;
- Quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm việc sửa đổi, bổ sung chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.”
Theo đó, việc sửa đổi, bổ sung một phần hoặc toàn bộ nội dung thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng hoặc thậm chí thay thế chế độ tài sản của vợ chồng thì quyền và nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm sửa đổi, bổ sung chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, nghĩa là, việc sửa đổi, bổ sung này không làm chấm dứt thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng mà chỉ làm thay đổi nội dung theo thỏa thuận của vợ, chồng trước đó. Khi vợ, chồng sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận vẫn phải đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến tài sản của vợ, chồng cho người thứ ba biết trong các giao dịch dân sự; nếu vợ, chồng vi phạm nghĩa vụ này thì quyền lợi của người thứ ba vẫn được pháp luật bảo vệ theo quy định của Bộ luật Dân sự.
1.1.3. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu
Bộ luật Dân sự 2015 quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự[4] và giao dịch dân sự vô hiệu: “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”[5]. Ngoải ra, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng là một giao dịch dân sự, do vậy văn bản thỏa thuận bị coi là vô hiệu nếu vi phạm các quy định trong Khoản 1 Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Do đó, văn bản thỏa thuận bị coi là vô hiệu nếu không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật Dân sự tức là: nếu vợ hoặc chồng chưa đủ tuổi kết hôn hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự ở thời điểm xác lập thỏa thuận thì thỏa thuận sẽ bị tuyên bố vô hiệu. Trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 không quy định cụ thể về điều kiện năng lực hành vi của các bên khi tham gia lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận cho nên có thể hiểu người đáp ứng được yêu cầu về năng lực hành vi để kết hôn thì có quyền xác lập thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng.
Ngoài ra, văn bản thỏa thuận bị coi là vô hiệu nếu tại thời điểm xác lập, vợ hoặc chồng hoặc người thứ ba không tự nguyện (như bị đe dọa, lừa dối, nhầm lẫn, cưỡng ép…). Việc vi phạm điều kiện về tự nguyện được quy định tại Điều 127 Bộ luật Dân sự 2015, theo đó, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất, nội dung của giao dịch hoặc buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của mình nên đã xác lập giao dịch đó.
Văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng cũng bị vô hiệu nếu nội dung của văn bản thỏa thuận vi phạm một trong các nguyên tắc chung được quy định tại các Điều 29, 30, 31, 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về nguyên tắc chung của chế độ tài sản vợ chồng; quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng; giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng.
Trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm quyền được bảo đảm chỗ ở của vợ, chồng được quy định: “Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng”[6].
Để làm rõ các trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản bị vô hiệu, Điều 6 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Đây là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi của vợ, chồng cũng như đảm bảo trách nhiệm của vợ, chồng trong việc thực hiện đúng những nội dung đã thỏa thuận, hạn chế các tranh chấp xảy ra liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng. Như vậy, khi thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu thì thỏa thuận này không phát sinh hiệu lực ngay từ thời điểm được xác lập và vì chế độ tài sản theo thỏa thuận không tồn tại ngay từ thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân nên chế độ tài sản theo luật định được áp dụng. Các quy định về thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu cũng như hậu quả pháp lý của tuyên bố vô hiệu được xây dựng dựa trên nguyên tắc của Bộ luật Dân sự.
1.2. Công chứng
Khái niệm công chứng ở nước ta đã được đề cập đến trong các văn bản: Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp, Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng bộ trưởng, Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 18/12/2000 của Chính phủ. Theo những văn bản này, khái niệm công chứng luôn gắn liền với hoạt động của nhà nước, các hoạt động công chứng đều do các Phòng công chứng nhà nước thực hiện và công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các văn bản được xác lập.
Công chứng được định nghĩa là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng[7].
Như vậy, Luật Công chứng đã khẳng định chủ thể thực hiện hành vi công chứng là công chứng viên chứ không phải là Phòng công chứng như ghi nhận tại các văn bản quy phạm pháp luật trước đó. Công chứng viên là chủ thể thực hiện việc “chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch” và việc chứng nhận đó được thực hiện theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu tự nguyện của tổ chức cá nhân
[1] Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 28(1).
[2] Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 47.
[3] Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 48.
[4] Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 117.
[5] Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 122
[6] Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 31.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)