THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 27 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0023.
- Pháp luật áp dụng: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Tính cấp thiết của đề tài | 1 |
| 2. Tình hình nghiên cứu | 1 |
| CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN THEO THOẢ THUẬN CỦA VỢ CHỒNG | 5 |
| 1.1. Khái niệm chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ chồng | 5 |
| 1.2. Đặc điểm của chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ chồng | 6 |
| 1.3. Ý nghĩa, vai trò của chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ chồng | 7 |
| 1.3.1. Đối với Nhà nước | 7 |
| 1.3.2. Đối với các bên chủ thể | 8 |
| CHƯƠNG 2: CHẾ ĐỘ TÀI SẢN THEO THOẢ THUẬN CỦA VỢ CHỒNG THEO PHÁP LUẬT CỦA ÚC | 9 |
| 2.1. Quy định trong pháp luật Úc về chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ chồng | 9 |
| 2.1.1. Nguyên tắc áp dụng | 9 |
| 2.1.2. Hình thức và nội dung | 9 |
| 2.1.3. Điều kiện để chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ chồng có hiệu lực | 11 |
| 2.2. Thực tiễn về chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ chồng tại Úc | 12 |
| CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN THEO THOẢ THUẬN CỦA VỢ CHỒNG | 14 |
| 3.1. Thực tiễn chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ chồng tại Việt Nam | 14 |
| 3.2. Bài học kinh nghiệm | 17 |
| 3.2.1. Các quy định về hình thức của thoả thuận | 17 |
| 3.2.2. Quyền và nghĩa vụ của người thứ ba trong thoả thuận | 17 |
| 3.2.3. Các quy định về pháp lý hỗ trợ ký kết thoả thuận | 18 |
| 3.2.4. Thời điểm xác lập thoả thuận | 19 |
| 3.2.5. Thoả thuận tài sản áp dụng đối với hôn nhân đồng giới | 20 |
| 3.2.6. Thời hạn sửa đổi, bổ sung | 20 |
| KẾT LUẬN | 22 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 23 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hôn nhân là một bước ngoặt lớn đánh dấu sự trưởng thành của mỗi người. “Trai lớn dựng vợ, gái lớn gả chồng” – đó là quy luật tự nhiên của tạo hóa, cũng là sự khơi nguồn, nền tảng xây dựng nên gia đình và các mối quan hệ khác trong gia đình. Hai con người, hai cá thể hoàn toàn riêng biệt, tuy nhiên qua sự kiện pháp lý đặc biệt gọi là kết hôn, đã ràng buộc họ với nhau về các quyền và nghĩa vụ giữa hai người. Mối quan hệ đó được vun đắp từ tình cảm rồi dần dần theo năm tháng vật chất được hình thành từ cuộc sống giữa họ. Vật chất ở đây có thể là tài sản chung hay riêng của vợ chồng, được hình thành từ trước, trong, hoặc có thể sau thời kì hôn nhân của hai người. Chính vì sự phức tạp đó nên đây được xem là một vấn đề mà pháp luật nhiều nước quan tâm và được quy định nhiều trong luật Hôn nhân và gia đình, đặc biệt là quy định về tài sản của vợ chồng, chế định tài sản theo thỏa thuận.
Thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong hôn nhân được luật liên bang Australia từng bước công nhận theo các mức độ khác nhau. Còn đối với Việt Nam, lần đầu tiên trong Pháp luật của chúng ta, chế định về tài sản của vợ chồng theo thoả thuận được công nhận trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Hiện nay, mặc dù luật HN&GĐ hiện hành đã phần nào khắc phục được những mặt còn hạn chế về tài sản của các luật HN&GĐ trước đó. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có những vấn đề mà pháp luật không thể dự liệu hết được, điều này dẫn đến các tranh chấp về tài sản của vợ chồng, gây khó khăn trong việc xử lí các vụ tranh chấp của các cơ quan có thẩm quyền. Vì thế, sau đây nhóm em xin phép được trình bày đề tài: “Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận theo pháp luật Úc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” để làm rõ hơn về những ưu – nhược điểm của các quy định này, từ đó đưa ra những kiến nghị phù hợp hơn với thực tiễn áp dụng ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện tại, ở Úc, chế độ phân chia tài sản của vợ chồng theo thoả thuận được coi là phổ biến và được chấp nhận rộng rãi. Điều này cho phép cho vợ chồng có thể tự do thỏa thuận về việc phân chia tài sản của họ khi chuyển tiếp vào giai đoạn ly hôn hoặc chấm dứt mối quan hệ hôn nhân. Chính vì vậy mà có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các luận văn, luận án hay các bài báo, tạp chí chuyên ngành luật đề cập đến vấn đề này:
“The Use and Abuse of Binding Financial Agreements: Lessons from Europe for Australia” của Anna Parker được đăng trên tạp chí International Journal of Law, Policy and the Family năm 2018. Bài báo này nghiên cứu và so sánh những giới hạn và điểm mạnh của các thỏa thuận tài sản tại Úc và châu Âu. Qua đó ta thấy, các thỏa thuận tài sản (hay gọi là “Trust”) là một công cụ pháp lý phổ biến ở Úc để quản lý tài sản và bảo vệ quyền lợi của các thành viên trong gia đình. Không chỉ vậy, nó còn có một số điểm mạnh nổi bật như: Bảo vệ tài sản, kiểm soát tài sản, quản lý gia đình (giúp đảm bảo rằng tài sản của bạn được sử dụng đúng cách) và tránh khỏi quy trình giải thể di sản khi có cá nhân qua đời. Tuy nhiên, vấn đề này cũng có rất nhiều bất cập và giới hạn của nó. Bài viết trên cũng đã đưa ra rất cụ thể về điểm giới hạn đó như: Thuế, sự kiểm soát hay các vấn đề về thay đổi quyền sở hữu nếu phát sinh. Tóm lại, theo bài nghiên cứu, các thỏa thuận tài sản có thể hữu ích trong việc bảo vệ tài sản của và giúp kiểm soát tài sản, tuy nhiên, cũng nên được hiểu rõ những giới hạn của chúng trước khi quyết định sử dụng chế độ này.
Bài báo “The Perils of Prenuptial Financial Agreements in Australia: Effectiveness and Professional Negligence” của John Harington Wade. Các thỏa thuận tài chính tiền hôn nhân ở Úc về mặt pháp lý không ổn định và không hiệu quả đến mức những người hành nghề pháp lý soạn thảo các thỏa thuận đó có nguy cơ cao phải chịu trách nhiệm do sơ suất nghề nghiệp. Bài báo này đưa ra nhiều yêu cầu khó khăn hiện tại cần thiết để làm cho một thỏa thuận tài chính tiền hôn nhân “ràng buộc hơn”; và so sánh từng yêu cầu với các thông lệ chung tiêu chuẩn của luật sư ở Úc. Hàng nghìn thỏa thuận không hiệu quả đang chờ đợi nỗ lực thực thi và hứng chịu những lời phàn nàn của khách hàng trong tương lai. Vì vậy, “không ổn định” chính là yếu tố làm nhiều luật sư gia đình chuyên ngành ở Úc hiện từ chối cố gắng soạn thảo các thỏa thuận tiền hôn nhân. “The Family Law Amendment (Financial Agreements and Other Measures) Bill 2015” của Mary Anne Neilsen được đăng trên tạp chí Bills Digest số 89 ngày 25/2/2016 đã phân tích sự thay đổi của pháp luật liên quan đến chế độ tài sản theo thỏa thuận tại Úc trong Nghị quyết 2015 của Luật gia đình. Cụ thể, trước đây, để xử lý tài sản trong trường hợp ly hôn, cặp đôi có thể thỏa thuận với nhau hoặc yêu cầu tòa án quyết định. Tuy nhiên, nếu các bên không đồng ý thì phải dựa vào quy định của luật chia tài sản tại Úc. Nhưng với Nghị quyết này, cặp đôi có thể đạt được thỏa thuận về tài sản của mình một cách dễ dàng hơn. Luật gia đình Úc giờ đây cho phép các bên tạo ra thỏa thuận chia tài sản tùy ý mà không cần phải theo các quy tắc chung của luật. Việc này nhằm giảm thời gian, chi phí cho việc đi tòa và cải thiện quyền lợi của các bên tham gia. Tuy nhiên, việc thỏa thuận này cần sự đồng ý của tất cả các bên, không được gây ảnh hưởng đến quyền lợi và sự công bằng giữa các bên liên quan.
Bài viết “Who gets a better deal? Women and prenuptial agreements in Australia and the USA” của Anita Mackay đã cho thấy được, thỏa thuận tiền hôn nhân từ lâu đã là một lựa chọn cho các cặp vợ chồng ở Hoa Kỳ và luật thống nhất đã được ban hành vào năm 1983 (Đạo luật về thỏa thuận trước chung thống nhất). Tuy nhiên, nó chỉ mới được lập pháp gần đây ở Úc, theo mục 90B của Đạo luật Cải cách Luật Gia đình năm 2000. “Đạo luật Cải cách” vẫn còn là “những ngày đầu” nên rất kịp thời để đặt câu hỏi liệu Australia có thể học hỏi kinh nghiệm của Mỹ hay liệu nước này có nguy cơ lặp lại những sai lầm tương tự hay không. Câu hỏi này rất quan trọng, vì kinh nghiệm của Hoa Kỳ đã chỉ ra rằng các thỏa thuận tiền hôn nhân không phải lúc nào cũng mang lại lợi ích cho cả hai bên vì những mối nguy hiểm đối với phụ nữ là đặc biệt nghiêm trọng. Chúng xuất phát từ sự bất bình đẳng trong khả năng thương lượng tồn tại giữa phụ nữ và nam giới khi tham gia các thỏa thuận, đặc biệt là trong bối cảnh các mối quan hệ thân thiết được đặc trưng bởi tình yêu và sự tin tưởng. Điều này có nghĩa là phụ nữ tham gia các thỏa thuận tiền hôn nhân có thể dễ bị tổn thương khi chúng được thực thi sau đó, cả ở cấp độ cá nhân và hệ thống. Fehlberg và Smyth đã đệ trình rằng các thỏa thuận tiền hôn nhân có nguy cơ tiếp tục vướng vào những bất lợi kinh tế được ghi chép rõ ràng mà phụ nữ thường phải trải qua khi ly hôn và những đứa con phụ thuộc của họ.
Ở của Việt Nam, tình hình nghiên cứu về đề tài này chưa được triển khai rộng rãi. Tuy nhiên, Việt Nam đang có những bước đi đáng kể trong việc thúc đẩy quyền lợi và vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội, trong đó có việc đồng bộ hoá, bổ sung và sửa đổi các quy định liên quan đến quyền lợi của vợ chồng về các vấn đề pháp lý nói chung cũng như vấn đề về Tài sản nói riêng trong giai đoạn kết hôn và ly hôn.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN THEO
THOẢ THUẬN CỦA VỢ CHỒNG
1.1. Khái niệm chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ chồng
Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và các văn bản hướng dẫn đều chưa giải thích khái niệm “chế độ tài sản của vợ chồng”. Trước khi Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực, phần lớn các nhà nghiên cứu luật học đồng ý với định nghĩa như sau: “Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng theo luật định”[1]. Sau này, khi Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành chính thức được áp dụng, nhất thiết phải có một khái niệm bao quát hơn. Nhóm tác giả đồng ý với khái niệm được đưa ra bởi Thạc sĩ Lê Thị Dung như sau: “Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng theo luật định”[2].
Hiện nay, chế độ tài sản giữa vợ chồng có thể được chia thành chế độ tài sản luật định và chế độ tài sản theo thỏa thuận. “Chế độ tài sản theo của vợ chồng thỏa thuận” cũng là một khái niệm chưa được giải thích trong các văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, từ định nghĩa như trên, ta có thể hiểu chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là sự thỏa thuận bằng văn bản do vợ chồng lập trước khi kết hôn để quy định chế độ tài sản trong trong suốt thời kỳ hôn nhân. Đối với một số quốc gia như Việt Nam, các nhà chức trách yêu cầu thêm điều kiện văn bản này phải được chứng thực bởi cơ quan có thẩm quyền. Nếu không đáp ứng điều kiện về mặt hình thức, thỏa thuận sẽ vô hiệu. Văn bản được xác lập sẽ là căn cứ pháp lý để điều chỉnh nghĩa vụ và quyền của vợ chồng về tài sản trong suốt thời kỳ hôn nhân của họ. Các thỏa thuận trong văn bản có thể được thay đổi trong thời kỳ hôn nhân với những điều kiện pháp lý chặt chẽ được quy định cụ thể trong luật. Các trường hợp dẫn đến sự điều chỉnh các điều khoản thường là do các điều khoản khi được áp dụng có ảnh hưởng không tốt đến lợi ích chung của gia đình hay lợi ích của các cá nhân (vợ, chồng hay lợi ích của người thứ ba có quan hệ giao dịch với vợ chồng),…
1.2. Đặc điểm của chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ chồng
Trước hết, chế độ tài sản giữa vợ chồng nói chung có những đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, chúng ta xét về chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này. Do chế định này cũng là một chế định dân sự, nên để trở thành chủ thể trong quan hệ này, các bên trước hết phải có đầy đủ năng lực chủ thể được quy định trong pháp luật dân sự. Ngoài ra, do chế độ tài sản này tồn tại trong thời kỳ hôn nhân, nên giữa các bên chủ thể cũng phải đáp ứng điều kiện là có quan hệ hôn nhân hợp pháp với tư cách là vợ chồng của nhau.
Thứ hai, mục đích của việc quy định chế độ tài sản giữa vợ chồng, trước hết là bảo vệ quyền lợi chung của gia đình và sau đó, là bảo vệ quyền lợi cá nhân của người vợ và người chồng. Chế độ tài sản mà vợ chồng lựa chọn – dù là luật định hay ước định, đều chịu sự ràng buộc bởi những nguyên tắc chung được nêu tại Điều 29 – Luật HN&GĐ 2014. Những nguyên tắc này bao gồm đảm bảo bình đẳng về địa vị pháp lý giữa vợ và chồng với tài sản chung và việc thiết lập bất kỳ chế độ tài sản nào cũng phải đảm bảo được những nhu cầu thiết yếu của gia đình. Quy định như vậy giúp đảm bảo rằng những lợi ích chung của gia đình, chứ không phải bảo vệ tài sản riêng của mỗi cá nhân trong thời kỳ hôn nhân, là mục đích cao nhất của các quy định về chế độ tài sản. Tuy vậy, cũng tại Khoản 3 Điều này, các nhà lập pháp đảm bảo rằng quyền lợi của gia đình không xâm phạm hay hạn chế các quyền, lợi ích của người khác, bao gồm cả cá nhân vợ và chồng.
Thứ ba, căn cứ xác lập, chấm dứt chế độ tài sản này phụ thuộc và sự phát sinh, chấm dứt của quan hệ hôn nhân. Cụ thể, thời điểm phát sinh chế độ tài sản được tính từ ngày hai người kết hôn và chấm dứt vào ngày hôn nhân kết thúc. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là chế độ này không điều chỉnh các tài sản mà hai bên có trước thời kỳ hôn nhân. Nếu giữa vợ chồng có thoả thuận nhập tài sản riêng có trước hôn nhân vào thành tài sản chung theo Điều 46, Luật HN&GĐ 2014 thì chế độ tài sản vợ chồng cũng điều chỉnh những tài sản này.
[1] Quan điểm của Nguyễn Mạnh Bách: “Chế độ hôn sản gồm một số các nguyên tắc quy định quyền hạn của hai vợ chồng trên các tài sản chung, sự đóng góp tiền bạc của hai vợ chồng trong thời gian hôn nhân, các quyền lợi của người thứ ba giao dịch với họ và những quyền lợi của mỗi người vợ chồng khi hôn thú chấm dứt” trong “Tìm hiểu Luật Dân sự Việt Nam” (Chế độ hôn sản, Thừa kế), Nxb. Đồng Nai, 1992, tr. 9.
[2] Lê Thị Dung, “Chế độ hôn sản trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014” (Luận văn Thạc sĩ Luật học), 2017, tr. 9.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0023″]
