THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 36 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0019.
- Pháp luật áp dụng: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI NÓI ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN TẠI VIỆT NAM | 2 |
| 1.1. Khái niệm về chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận. | 2 |
| 1.2. Cơ sở lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng theo thảo thuận | 2 |
| 1.3. Các nguyên tắc cơ bản cần tuân thủ trong việc xây dựng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận | 6 |
| 1.4. Vai trò, ý nghĩa của chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận | 7 |
| 1.4.1. Vai trò của chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận | 7 |
| 1.4.2. Ý nghĩa chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận | 7 |
| CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN TẠI VIỆT NAM | 11 |
| 2.1. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật Việt Nam | 11 |
| 2.1.1. Sự thay đổi về yếu tố cá nhân và chức năng kinh tế trong gia đình | 11 |
| 2.1.2. Tình trạng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân khi nền kinh tế phát triển | 12 |
| 2.1.3. Tình trạng ly hôn gia tăng kèm theo tranh chấp tài sản khi ly hôn và sau khi ly hôn | 13 |
| 2.2. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật của một số nước trên thế giới | 15 |
| 2.2.1. Các nước Phương Tây | 15 |
| 2.2.2. Các nước Phương Đông | 18 |
| 2.2.3. So sánh, nhận xét | 21 |
| CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ | 23 |
| 3.1. Đánh giá chung về tình hình thực hiện chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận tại VN dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn | 23 |
| 3.1.1. Mặt tích cực | 23 |
| 3.1.2. Mặt hạn chế | 25 |
| 3.2. Kiến nghị hoàn thiện chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận | 28 |
| 3.2.1. Kiến nghị sửa đổi thời điểm xác lập chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận | 28 |
| 3.2.2. Kiến nghị sửa đổi về số lần thay đổi việc xác lập chế độ tài sản theo thỏa thuận | 28 |
| 3.2.3. Kiến nghị về giới hạn thời hạn sửa đổi, bổ sung chế độ tài sản theo thỏa thuận giữa lúc xác lập và lúc sửa đổi, bổ sung gần nhất hoặc giữa hai lần sửa đổi, bổ sung | 29 |
| 3.3. Tóm tắt kiến nghị | 29 |
| TÀI LIỆU THAM KHẢO | 31 |
LỜI MỞ ĐẦU
Hôn nhân là một hiện tượng xã hội có sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà dựa trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng theo quy định của pháp luật nhằm chung sống với nhau lâu dài và tạo dựng một gia đình hạnh phúc, ấm no và bền vững. Việc kết hôn cũng là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân giữa người với người, từ đó hình thảnh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Như một tất yếu, sau khi kết hôn và sống chung với nhau, giữa sẽ phát sinh quan hệ tài sản nhằm đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của gia đình. Thông thường các tài sản sau khi kết hôn được coi là tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ chồng, nghĩa là ai cũng có số phần như nhau. Tuy nhiên pháp luật quy định vợ chồng có quyền thỏa thuận về chế độ tài sản của mình trước khi kết hôn.
Nhận thấy hiện nay, dưới sự tác động của nền kinh tế, xã hội phát triển, nhu cầu của con người ngày càng thay đổi nhiều hơn, dẫn đến việc phân chia tài sản chung của vợ chồng càng trở nên cấp thiết và quan trọng. Để tránh tình trạng xung đột và mâu thuẫn về tài sản diễn ra trong thời kỳ hôn nhân, có không ít cặp vợ chồng đã lựa chọn chế độ thỏa thuận về tài sản chung trước khi kết hôn. Việc này dựa trên ý chí tự nguyện, tự chủ và bình đẳng giữa cả hai bên, thống nhất với nhau về quyền sở hữu của mình đối với tài sản chung và riêng sau khi kết hôn, từ đó tránh được những xung đột và tranh chấp không đáng có. Vậy dựa vào căn cứ nào để vợ chồng có thể xây dựng một thỏa thuận về chế độ tài sản sau khi kết hôn?
Từ thực tại trên, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài tiểu luận “Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận tại Việt Nam” để nghiên cứu. Do kiến thức còn hạn hẹp nên không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong cô có thể đưa ra những nhận xét và góp ý để giúp bài tiểu luận của chúng em hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn ạ!
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN TẠI VIỆT NAM
1.1. Khái niệm về chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận.
Chế độ tài sản vợ chồng là tổng hợp những quy phạm pháp luật điều chỉnh về (sở hữu) quan hệ tài sản của vợ chồng, gồm các quy định về việc tạo lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ và chồng theo luật định v.v. Việc quy định chế độ tài sản vợ chồng ở mỗi quốc gia là khác nhau tuỳ theo chế độ kinh tế, xã hội cũng như văn hoá, đạo đức và mỹ tục. Pháp luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam quy định hai chế độ tài sản vợ chồng: Một là chế độ theo pháp luật, hai là chế độ theo thoả thuận.
Chế độ tài sản theo pháp luật là việc pháp luật đề ra các hình thức xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với khối tài sản của họ.
Chế độ tài sản theo thoả thuận là việc vợ chồng tự thoả thuận và thoả thuận riêng với nhau trong việc xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với tài sản của họ. Vợ chồng được lựa chọn một trong những chế độ tài sản mà pháp luật cho phép hoặc tự xác lập một chế độ riêng với điều kiện không trái với quy định của pháp luật. Có khá nhiều tên gọi khác nhau cho thoả thuận của vợ chồng liên quan đến tài sản như: hôn ước, hợp đồng tiền hôn nhân hoặc thoả thuận tài sản của vợ chồng v.v…
1.2. Cơ sở lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng theo thảo thuận
Xác định chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xuất phát từ quan điểm của các nhà làm luật phương Tây. Theo quan điểm này, hôn nhân thực chất là một loại hợp đồng dân sự, giữa hôn nhân và các loại hợp đồng dân sự thông thường khác chỉ khác nhau ở nghi thức thiết lập và thủ tục, trình tự chấm dứt. Hơn nữa, các nhà làm luật ở các nước phương Tây rất đề cao quyền tự do cá nhân, quyền tự định đoạt đối với tài sản của mình, tài sản vợ chồng. Do đó, tự do lập hôn ước đã trở thành một nguyên tắc và là giải pháp đầu tiên khi quy định chế độ tài sản của vợ chồng trong hệ thống luật pháp của hầu hết các nước phương Tây. Chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận hay còn gọi là chế độ tài sản ước định có lịch sử hình thành như sau:
Trong thời kỳ La mã cổ đại, phụ nữ và nam giới trước khi kết hôn thường lập thỏa thuận với nhau, trong đó xác định rõ vấn đề tài sản trong cuộc sống hôn nhân tương lai, nêu rõ những điều kiện thừa kế tài sản khi một bên vợ hoặc chồng qua đời. Điều này rất phổ biến trong xã hội trước khi có sự xuất hiện của Thiên Chúa giáo, nó thể hiện tính độc lập, không vụ lợi trong quan hệ tài sản của vợ chồng khi lập gia đình, giảm thiểu tình trạng một trong hai bên đến với nhau chỉ vì tài sản.
Khi có sự ra đời của hệ tư tưởng “Thiên Chúa giáo” thì quan niệm hôn nhân là “mối liên kết thần thánh” của các bên nam nữ bắt đầu được hình thành[1]. Đồng thời từ khoảng thời gian này trở đi, quan hệ hôn nhân và gia đình chịu ảnh hưởng từ sự điều chỉnh của nhà thờ Thiên Chúa Giáo.
Anh, Pháp là những quốc gia đã áp dụng chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận từ rất lâu về trước. Tại những nước này, sự ra đời của hôn ước gắn liền với việc ý thức rõ về sự cần thiết phải giữ gìn, bảo vệ quyền của người phụ nữ trong mọi mặt của đời sống xã hội nói chung, trong gia đình nói riêng. Họ có nhu cầu được lên tiếng, họ cần phải được tự quyết định tài sản của mình cũng như sử dụng các hoa lợi, lợi tức của những tài sản đó.
Vào thế kỷ XVII, cùng với sự phát triển của Chủ nghĩa Tư bản ở Anh, quy phạm “luật chung” có sự mâu thuẫn đối với quyền lợi của những người thuộc tầng lớp giàu có trong xã hội. Để vòng chu chuyển của lưu thông dân sự được phát triển bền vững và để bảo vệ quyền tài sản của những người có quan hệ huyết thống với người phụ nữ có gia đình, bảo toàn tài sản của gia tộc, cần thiết phải hình thành chế định tài sản riêng của người vợ trong quan hệ hôn nhân. Trước năm 1882, tại Vương quốc Anh, tài sản của vợ chồng theo “luật chung” được coi là thuộc hoàn toàn về người đàn ông. Người phụ nữ lúc này mất đi toàn bộ quyền độc lập về tài sản, họ không có quyền sở hữu tài sản và không thể tự do định đoạt tài sản theo ý chí của mình. Tất cả những tài sản của người phụ nữ trước hôn nhân sau khi kết hôn thì cũng thuộc về sở hữu chung của chồng. Tài sản của người vợ không tồn tại. Nhân thân của người vợ chuyển hóa vào nhân thân của chồng, bên cạnh đó tài sản cũng thế. Tài sản của vợ cũng thuộc về người chồng. Chế độ tài sản này không công bằng, và để bảo toàn “nguyên tắc công bằng”, bảo đảm mối quan hệ vợ chồng bình đẳng, xã hội đã công nhận giá trị của các hôn ước, theo đó người vợ có quyền định đoạt tài sản của mình. Về nguyên tắc, những tài sản thuộc về người vợ chỉ là những tài sản thuộc về nguồn vốn (tư bản) tồn tại dưới hình thức này hoặc hình thức khác, chứ không thuộc nhóm tài sản thông thường của gia đình. Đến năm 1882, Nghị viện Anh thông qua Luật về tài sản của phụ nữ có chồng, trong Luật quy định khi người phụ nữ kết hôn thì tài sản mà họ có trước khi kết hôn và cả những tài sản có được trong thời kì hôn nhân sẽ thuộc chế độ tài sản được xác định trong văn bản điều chỉnh về quan hệ tài sản vợ chồng. Người phụ nữ hoàn toàn độc lập trong việc thực hiện các giao dịch dân sự đối với những tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, họ cũng được quyền để lại tài sản của mình thông qua thừa kế. Quyền lợi chính đáng của người phụ nữ đã được công nhận. Và cũng từ đó, chế độ tài sản riêng và chung của vợ chồng được hình thành.
Thế giới Hồi giáo cũng đặt ra yêu cầu cần phải ký kết hôn ước, liệt kê rõ ràng, minh bạch những tài sản mà chú rể chuyển cho cô dâu dưới dạng quà cưới. Việc soạn thảo hôn ước này được thực hiện trước sự chứng kiến của luật sư cả hai bên cô dâu và chú rể. Luật sư có mặt khi ký kết hôn ước cũng như trong chính hôn lễ cùng với người làm chứng và đại diện lãnh đạo tinh thần của đạo Hồi.
Ở các nước mà pháp luật ghi nhận quyền lập hôn ước thì trước khi kết hôn, hai bên hoàn toàn có quyền tự do lập hôn ước, phân định rạch ròi chế độ tài sản của nam và nữ, thỏa thuận chế độ tài sản vợ chồng và pháp luật chỉ can thiệp và quy định chế độ tài sản khi họ không lập hôn ước. Bộ luật Dân sự các nước Nhật Bản, Cộng hòa Pháp hay BLDS và Thương mại Thái Lan đều có các điều khoản quy định vợ chồng có thể tự do lập hôn ước, miễn là những thỏa thuận trong hôn ước không trái với thuần phong mỹ tục và các quy định của pháp luật.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Hiến pháp 2013) có đề cao quyền sở hữu riêng của công dân, và Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015 (BLDS 2015) quy định các nhân có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình… Nguyên tắc tự do cam kết, thoả thuận trong các quan hệ dân sự, được ghi nhận trong Bộ luật dân sự, đảm bảo cho các cá nhân có quyền tự do thoả thuận để xác lập các quyền và nghĩa vụ, miễn sao các thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội.
Nhìn chung, tài sản của vợ chồng không nhất thiết phải do pháp luật quy định, chính bản thân đôi vợ chồng có thể tự thỏa thuận với nhau. Vợ chồng có thể thỏa thuận dựa trên cơ sở lựa chọn một chế độ tài sản đã được quy định sẵn trong pháp luật hoặc có thể chọn một chế độ tài sản hoàn toàn độc lập với chế độ tài sản vốn có trong luật pháp.
Pháp luật cho phép các thỏa thuận trong hôn ước có thể sửa đổi trong suốt thời kỳ hôn nhân là một sự tiến bộ trong chế định tài sản, tuy nhiên vẫn còn đó một số tồn đọng cơ bản. Có thể kể đến chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận quá chú trọng đến lợi ích cá nhân của vợ, chồng mà lợi ích chung của gia đình bị xem nhẹ hay lợi ích gia đình được xem xét theo ý thức chủ quan “thuần túy” của vợ chồng, dẫn đến mâu thuẫn bởi bản chất của gia đình là “bổn phận và trách nhiệm”. Do đó, trước đây chế độ tài sản này không được pháp luật các nước trong hệ thống Xã hội chủ nghĩa (trong đó có Việt Nam) ghi nhận.
Những cam kết, thỏa thuận hợp pháp là cơ sở để xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên đối với tài sản phát sinh trong thời kì hôn nhân và các quyền, nghĩa vụ đó phải được bảo đảm thực hiện. Các thỏa thuận hợp pháp này có hiệu lực bắt buộc thực hiện và phải được tôn trọng.
Trong quan hệ gia đình, vợ chồng có trách nhiệm, bổn phận phải đảm bảo những điều kiện cơ bản nhất về tinh thần, vật chất cho sự tồn tại và phát triển của gia đình. Tuy nhiên điều này không đồng nghĩa với việc tất cả các cặp vợ chồng đều phải thực hiện một chế độ tài sản nhất định do pháp luật quy định. Quyền tài sản là quyền gắn với nhân thân, do đó vợ chồng cần được cùng nhau thỏa thuận sao cho hợp lý
1.3. Các nguyên tắc cơ bản cần tuân thủ trong việc xây dựng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận
Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận còn gọi là chế độ tài sản ước định. Đây là loại chế độ tài sản dựa trên sự thỏa thuận của vợ chồng (hôn ước). Miễn sao tự thỏa thuận đó không trái với trật tự công cộng, với đạo đức, với thuần phong mỹ tục và những quy định của pháp luật[2]. Do đó, để đảm bảo sự thỏa thuận này không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận phải tuân thủ theo những nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng được quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Những nguyên tắc cơ bản có thể kể đến như sau:
Thứ nhất, khoản 1 điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.” Nguyên tắc này được xây dựng hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của xã hội, vợ chồng bình đẳng, nam nữ bình quyền. Quan hệ vợ chồng được xác lập trên cơ sở tình cảm giữa hai bên, cùng chung công sức xây dựng gia đình, trong đó có sự đóng góp của các bên đối với tài sản. Vì vậy giữa vợ và chồng phải có quyền ngang nhau trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản, không nên có sự phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động ngoài xã hội.
Thứ hai, khoản 2 điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình”. Nhu cầu thiết yếu ở đây được hiểu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt khác. Đây là những nhu cầu tối thiểu mà bất cứ một cá nhân nào cũng cần được đáp ứng để có thể duy trì cuộc sống của mình.
Thứ ba, khoản 3 điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường.” Nguyên tắc này giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác. Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng nếu xâm phạm đến những đối tượng khác thì đều phải bồi thường thiệt hại. Điều này cho thấy luật pháp luôn công bằng và bảo vệ con người…
[1] Nguyễn Thị Kim Dung (2014), “Chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr. 70.
[2] Lã Thị Tuyền (2014), “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 9.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0019″]
