THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 25 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0047.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Trọng tài thương mại năm 2010
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM | 2 |
| 1.1. Các khái niệm cơ bản về việc công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam | 2 |
| 1.1.1. Khái niệm phán quyết của Trọng tài nước ngoài | 2 |
| 1.1.2. Khái niệm công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài | 3 |
| 1.2. Nguyên tắc công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam | 5 |
| 1.3. Quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam | 6 |
| 1.4. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam | 6 |
| 1.4.1. Thẩm quyền của Toà án Việt Nam | 6 |
| 1.4.2. Trình tự, thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam | 7 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG VIỆC CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM | 10 |
| 2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam trong việc áp dụng công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài | 10 |
| CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM | 15 |
| 3.1. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về việc công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài | 15 |
| 3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài | 17 |
| KẾT LUẬN | 20 |
| TÀI LIỆU THAM KHẢO | 21 |
LỜI MỞ ĐẦU
Với mục tiêu làm bạn với tất cả các nước, Việt Nam đã thực hiện “mở cửa”, mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia, thu hút đầu tư nước ngoài. Từ việc thực hiện chính sách mở cửa để đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tại Việt Nam xuất hiện ngày càng nhiều các quan hệ giữa công dân, pháp nhân Việt Nam với công dân, pháp nhân nước khác.
Đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế quốc tế và giao lưu thương mại, nhu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam cũng bắt đầu tăng theo. Với nhiều nỗ lực trong việc phát triển phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, đánh dấu sự ra đời của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và cải thiện thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài bằng những sửa đổi, bổ sung các quy định tương ứng trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, trong suốt thời gian qua hoạt động công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập. Nhiều phán quyết chưa được thi hành tại Việt Nam dẫn đến hình thành tâm lý phân vân có nên thực hiện tranh chấp theo thể thức trọng tài bởi họ thiếu niềm tin đối với hiệu lực phán quyết trọng tài nhất là các phán quyết của Trọng tài nước ngoài được thực thi ở Việt Nam.
Ngày nay, các chủ thể của tranh chấp kinh doanh thường lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp Trọng tài do các ưu điểm về bảo mật thông tin, tiết kiệm thời gian, công sức cũng như tiền bạc. Nhưng cũng chính vì bảo mật thông tin, ít công bố nên tác giả cũng gặp khó khăn trong việc thực tế đi thu thập tài liệu.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ nội dung và hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài là nhiệm vụ quan trọng cần thiết hiện nay. Đó là lí do tôi chọn đề tài: “Công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam – Những vướng mắc và hoàn thiện”.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1.1. Các khái niệm cơ bản về việc công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam
1.1.1. Khái niệm phán quyết của Trọng tài nước ngoài
Theo Điều 3 giải thích từ ngữ Luật Trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010, Trọng tài ở đây được hiểu là “phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định”. Trong đó, các bên tranh chấp là “cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam hoặc nước ngoài tham gia tố tụng trọng tài với tư cách là nguyên đơn, bị đơn” và thoả thuận trọng tài là “thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh”. So với phương pháp tố tụng tại Toà án thì phương thức tố tụng bằng Trọng tài mạng lại nhiều ưu điểm hơn cho các bên tham gia tố tụng như nhanh, gọn, linh hoạt, đặc biệt không công khai[1], giúp cho các bên giữ bí mật trong hoạt động kinh doanh của mình. Ngoài ra đây là phương thức sử dụng bên thứ ba và có thẩm quyền đưa ra quyết định mang tính chất chung thẩm. Bên cạnh đó trọng tài nước ngoài được hiểu là “Trọng tài được thành lập thoe quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài do các bên thoả thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết các tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam”[2].
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành phán quyết của trọng tài “Là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài”[3]. Trong đó, quyết định của Hội đồng trọng tài bao gồm hai yếu tố:
Thứ nhất, quyết định đó phải chứa đựng toàn bộ nội dung vụ tranh chấp
Thứ hai, quyết định này làm chấm dứt quá trình tố tụng trọng tài của các bên
Hội đồng trọng tài làm việc dựa trên những nguyên tắc cơ bản được đưa ra trong Điều 4 của Luật Trọng tài thương mại Việt Nam 2010
Trong quá trình công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài mang tính giá trị cốt lõi giúp quá trình đó thực thi một cách chuẩn mực, đã thể hiện trong Điều 1 của Công ước New York năm 1958 mà Việt Nam là thành viên trong đó có hai vấn đề chính được xem xét là:
Thứ nhất, phán quyết của Hội đồng trọng tài được xem là một phán quyết Trọng tài nước ngoài khi phán quyết này được tuyên tại một quốc gia khác với quốc gia nơi mà có yêu cầu công nhận và cho thi hành, điều này cũng được quy định trong pháp luật Việt Nam tại khoản 12 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010. Phán quyết này có thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước New York 1958 hay không nằm ở nguyên tắc lãnh thổ trong đó lãnh thổ là yếu tố quan trọng trong việc quyết định tính nước ngoài của phán quyết.
Thứ hai, một phán quyết được tuyên trên lãnh thổ quốc gia nhưng không được xem là phán quyết trong nước thì được coi như là phán quyết trọng tài nước ngoài. Vấn đề được xem xét là quốc gia đó có công nhận phán quyết nước ngoài hay không? Việc xác định yếu tố không phải là phán quyết trong nước được dành cho pháp luật quốc gia nơi tiến hành công nhận và cho thi hành. Tại pháp luật Việt Nam, theo khoản 11 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại Việt Nam 2010 đã đưa ra khái niệm về Trọng tài nước ngoài. Theo đó, dù có được tuyên trên lãnh thổ Việt Nam, phán quyết này vẫn được coi là phán quyết của trọng tài nước ngoài.
1.1.2. Khái niệm công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài
Theo lý luận về tư pháp quốc tế, phán quyết của Trọng tài về nguyên tắc chỉ có hiệu lực và được thi hành trên lãnh thổ mà phán quyết đó được tuyên, để thi hành những phán quyết đó thì các quốc gia có liên quan cần phải ký kết các Điều ước quốc tế song phương (như các hiệp định tương trợ tư pháp) hoặc đa phương (như Công ước New York 1958). Việc công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện trên cơ sở các cam kết đã được nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tham gia ký kết. Ngoài ra việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam còn nhằm các mục tiêu sau:
Thứ nhất, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, cơ quan, tổ chức trên lãnh thổ Việt Nam cũng như lãnh thổ các quốc gia đã ký kết Điều ước, hiệp định. Với xu thế phát triển như hiện nay, việc giải quyết các tranh chấp đó không chỉ đặt ra mục tiêu bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự là người Việt Nam mà còn phải đảm bảo quyền, lợi ích của đương sự là người nước ngoài trên cơ sở các Hiệp định tương trợ tư pháp cũng như Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Thứ hai, việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài phải khẳng định hiệu lực pháp luật của phán quyết đó trên lãnh thổ nước tuyên bố phán quyết, từ đó dẫn tới việc Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành phán quyết đó trên lãnh thổ Việt Nam. Việc công nhận dựa trên nguyên tắc “có đi có lại” đang là một thực tế mà nhiều quốc gia trên thế giới đang áp dụng, nhằm thể hiện sự nhượng bộ cũng như tôn trọng lẫn nhau của các quốc gia.
Thứ ba, đây là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ quá trình tố tụng dân sự quốc tế, khi Hội đồng trọng tài đưa ra phán quyết, người phải thi hành là công dân Việt Nam, đang cư trú tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến việc thi hành án đang có trên lãnh thổ Việt Nam, thì vấn đề công nhận và cho thi hành mới được tiến hành trên lãnh thổ Việt Nam. Khi Toà án Việt Nam ra quyết định công nhận và cho thi hành thì quyền lợi của người được thi hành án mới được đảm bảo. Ngược lại, nếu bị Toà án từ chối việc công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài thì việc giải quyết dứt điểm vụ kiện coi như không thành công.
Như vậy, việc công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài được coi là giai đoạn cuối cùng và quan trọng nhất trong việc kết thúc toàn bộ quá trình tố tụng quốc tế. Do vậy, công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài là một thủ tục tố tụng đặc biệt do Toà án tiến hành nhằm xem xét để công nhận tính hiệu lực của phán định Trọng tài nước ngoài trên phạm vi lãnh thổ của Việt Nam.
1.2. Nguyên tắc công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam
Theo Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, các nguyên tắc cơ bản cề công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài bao gồm:
Nguyên tắc thứ nhất, dựa trên cơ sở của Điều ước quốc tế[4], đây là nguyên tắc được cụ thể hoá bởi quy định tại Điều 1 Công ước New York năm 1958 mà Việt Nam là thành viên, bên cạnh đó Việt Nam cũng đã ký kết nhiều hiệp định song phương với các quốc gia về vấn đề này.
Nguyên tắc thứ hai, có đi có lại[5], đây là một trong những nguyên tắc quan trọng trong quan hệ quốc tế. Một quốc gia áp dụng cho cá nhân, tổ chức nước ngoài một chế độ tương tự như cá nhân, tổ chức trong nước được hưởng ở nước đó. Tuy nhiên, đây cũng là nguyên tắc mang tính tiêu cực nếu như quốc gia này dùng để “trả đũa” một quốc gia khác trong trường hợp cá nhân, tổ chức này bị hạn chế quyền và lợi ích bởi nước khác. Nguyên tắc này vẫn còn chưa được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về cơ sở pháp lý để đảm bảo quyền thực hiện, hay như quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền cho việc áp dụng.
Nguyên tắc thứ ba, không trái với các nguyên tắc cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam[6], đây là nguyên tắc nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên khi tham gia vụ việc có yếu tố nước ngoài, thể hiện sự thượng tôn pháp luật và chủ quyền quốc gia.
[1] Khoản 4, Điều 4 – Luật Trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010, Điều 34 UNCITRAL 2013
[2] Điều 3 – Luật Trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010
[3] Khoản 10, Điều 3 – Luật Trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010
[4] Điểm a, khoản 1, Điều 424 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015
[5] Điểm b, khoản 1, Điều 424 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015
[6] Điều V Công ước New York năm 1958
– Khoản 2 Điều 459 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0047″]
