
- Trường học: Đại học Kinh tế Luật
- Điểm số: 8.75 điểm
- Số trang: 07 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B1050 | Năm 2025
XEM TRƯỚC NỘI DUNG TIỂU LUẬN
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

MỤC LỤC TIỂU LUẬN CHI TIẾT
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| 1. Sự cần thiết phải quy định chế định Trust Law (Tín thác) trong pháp luật Việt Nam | 01 |
| Thứ nhất, tín thác là công cụ hữu hiệu cho việc quản lý tài sản dùng cho mục đích từ thiện | 02 |
| Thứ hai, Tín thác giúp quản lý hiệu quả di sản dùng cho việc thờ cúng | 04 |
| 2. Kiến nghị phương hướng xây dựng pháp luật về tín thác cho Việt Nam | 05 |
| Thứ nhất, về định nghĩa tín thác | 06 |
| Thứ hai, về thiết lập tín thác | 06 |
| Thứ ba, về tài sản tín thác | 06 |
| Thứ tư, về sửa đổi tín thác | 07 |
| Thứ năm, về chấm dứt tín thác | 07 |
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, Việt Nam chưa công nhận và chưa có khung pháp lý cho hoạt động tín thác (Trust law) mà chỉ có một số quy định và văn bản có mang một số nội dung có tính chất tương tự và chưa hoàn chỉnh của loại quan hệ pháp lý này. Văn bản pháp lý duy nhất có nội dung liên quan đến tín thác là Thông tư số 30/2014/TT-NHNN ngày 06 tháng 11 năm 2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước sửa đổi bổ sung bởi Thông tư số 14/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 06 năm 2016 quy định về ủy thác và nhận ủy thác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Trong đó, “tín thác” được gọi bằng tên gọi “ủy thác”. Ủy thác theo quy định của thông tư có mang tính chất của một tín thác mà cụ thể là tín thác vì mục đích thương mại. Cụ thể, nội dung về ủy thác trong văn bản này có chứa một trong những nội dung cốt lõi của tín thác là được chuyển giao tài sản và bị ràng buộc phải quản lý và định đoạt tài sản đó (ở đây là sử dụng tài sản vào các hoạt động cho vay và đầu tư) vì lợi ích của người khác. Trong quan hệ ủy thác ở văn bản này thì người ủy thác đồng thời là người thụ hưởng lợi ích vốn. Tính độc lập của tài sản ủy thác chỉ được dùng theo mục đích, nội dung quy định tại hợp đồng ủy thác. Tuy nhiên không thể căn cứ vào văn bản này để khẳng định tín thác đã được đề cập và công nhận bởi pháp luật Việt Nam bởi nó không có chứa các nội dung hoàn chỉnh về tín thác, trong đó có nhiều sự thiếu sót mang tính cơ bản. Vì lý do trên, học viên lựa chọn đề tài “Khả năng vận dụng chế định Trust law vào thực tiễn Việt Nam” làm đề tài tiểu luận kết thúc môn học.
1. Sự cần thiết phải quy định chế định Trust Law (Tín thác) trong pháp luật Việt Nam
Qua nghiên cứu thực trạng pháp luật về quản lý tài chính cá nhân, quản lý tài sản dùng cho mục đích thờ cúng, các hoạt động tín thác đầu tư vốn đã và đang tồn tại và phát triển ở nước ta và đáng chú ý nhất, mang tính thời sự nhất là quản lý tài sản dùng cho mục đích từ thiện xuất phát từ một số nghệ sĩ, diễn viên trong thời gian qua, tác giả nhận thấy việc xây dựng và đưa vào áp dụng pháp luật về tín thác là rất cần thiết và phù hợp đối với thực trạng pháp lý và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.
Thứ nhất, tín thác là công cụ hữu hiệu cho việc quản lý tài sản dùng cho mục đích từ thiện
Trong những năm vừa qua, đặc biệt là trong những thời điểm căng thẳng của dịch Covid 19 và mùa mưa bão lụt miền trung, hoạt động từ thiện tại Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ trên mọi mặt, từ quy mô, số tài sản quyền góp đến các đối tượng tham gia, thể hiện tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết vượt qua khó khăn của dân tộc Việt Nam. Trong giai đoạn này, bên cạnh các hoạt động cứu trợ của các cơ quan tổ chức nhà nước như thông thường thì còn có hoạt động từ thiện do các cá nhân là các nghệ sĩ, người nổi tiếng đứng ra tổ chức, vận động quyên góp và phát triển đến quy mô chưa từng có với số tiền quyên góp lên đến hàng trăm tỷ đồng. Tuy nhiên, đi kèm với sự phát triển này là hàng loạt vụ bê bối xảy ra sau đó như: vụ việc cầu thủ Công Vinh, Thủy Tiên bị tố ăn chặn tiền từ thiện, nghệ sĩ Hoài Linh bị tố cáo chậm giải ngân tiền từ thiện, thậm chí còn có một số vụ việc có dấu hiệu lợi dụng danh nghĩa từ thiện để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản1Theo https://tienphong.vn/lum-xum-tu-thien-nam-2021-loat-nguoi-noi-tieng-bi-sao-ke-chieu-menh- post1401331.tpo (Truy cập ngày 02/03/2025). Thực trạng này đặt ra nhu cầu cần phải có một công cụ pháp lý hiệu quả để có thể quản lý tài sản từ thiện do cá nhân kêu gọi minh bạch, hiệu quả.
Dưới góc độ pháp lý, hành động từ thiện có thể hiểu đơn giản chỉ là việc tặng cho tài sản của người có tài sản với người đang có nhu cầu và các quy định của pháp luật hiện hành đều không cấm hoạt động từ thiện của cá nhân. Hoạt động lập quỹ từ thiện, vận động, tiếp nhận và sử dụng nguồn đóng góp tự nguyện cho hoạt động nhân đạo được quy định tại Nghị định số 93/2021/NĐ-CP về vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, sự cố; hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo và Nghị định 93/2019/NĐ-CP về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện. Tuy nhiên việc nhận đóng góp dưới danh nghĩa cá nhân sẽ phát sinh một số vấn đề như:
- Một là, khi các khoản đóng góp được chuyển vào tài khoản cá nhân, thì sẽ trở thành một phần sản nghiệp của cá nhân nhận. Trong trường hợp tồn tại chủ nợ có khoản nợ đến hạn hoặc quá hạn thì chủ nợ có quyền thực hiện các hoạt động nghiệp vụ để sử dụng số tài sản hiện có trong sản nghiệp của bên nhận nhằm đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ.
- Hai là, mặc dù làm việc tốt nhưng cá nhân nhận đóng góp để đi cứu trợ sẽ vướng vào các nghĩa vụ công khai minh bạch và áp lực giải trình mục đích sử dụng với công chúng.
- Ba là, một số cá nhân đã quyết định quyền tiền làm từ thiện nhưng sau đó vì một lý do nào đấy đã đòi lại, gây khó khăn và phiền nhiễu cho bên nhận.
- Bốn là, hoạt động từ thiện của các cá nhân thường mang tính bộc phát và tùy tình hình huy động.
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 07 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với 39.000 VNĐ!
CHÚ THÍCH
- 1Theo https://tienphong.vn/lum-xum-tu-thien-nam-2021-loat-nguoi-noi-tieng-bi-sao-ke-chieu-menh- post1401331.tpo (Truy cập ngày 02/03/2025)
