
- Trường học: Đại học Luật Hà Nội
- Điểm số: 9.00 điểm
- Số trang: 31 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B0966 | Năm 2025
- Luật áp dụng: Bộ luật Hình sự 2015 (SĐ,BS 2017, 2024, 2025)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG TIỂU LUẬN
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

XEM TRƯỚC TRANG MỤC LỤC


MỤC LỤC TIỂU LUẬN CHI TIẾT
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT ĐƯỢC ÁP DỤNG | 2 |
| 1.1. Điều kiện áp dụng quy định quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng | 2 |
| 1.1.1. Trường hợp thứ nhất | 2 |
| 1.1.2. Trường hợp thứ hai | 3 |
| 1.2. Phương án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng | 5 |
| 1.2.1. Chuyển sang khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật được áp dụng | 5 |
| 1.2.2. Chuyển khung hình phạt nhưng không bắt buộc phải là khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật được áp dụng | 6 |
| 1.2.3. Giữ nguyên khung hình phạt được áp dụng nhưng quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đó | 7 |
| 1.2.4. Chuyển sang loại hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn | 8 |
| CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ TRUNG QUỐC VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT ĐƯỢC ÁP DỤNG | 10 |
| 2.1. Người phạm tội có tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự Trung Quốc | 10 |
| 2.2. Người phạm tội không có tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự Trung Hoa, nhưng căn cứ vào những tình tiết đặc biệt của vụ án và được Tòa án nhân dân tối cao chấp thuận | 13 |
| CHƯƠNG 3. SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ BỘ LUẬT HÌNH SỰ TRUNG QUỐC VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC THẤP NHẤT | 14 |
| 3.1. Bộ Luật hình sự Việt Nam | 14 |
| 3.2. Bộ luật Hình sự Trung Quốc | 16 |
| 3.3. So sánh và phân tích điểm tương đồng và khác biệt | 19 |
| 3.3.1. Điểm tương đồng | 19 |
| 3.3.2. Điểm khác biệt | 19 |
| CHƯƠNG 4. ĐÁNH GIÁ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM | 22 |
| CHƯƠNG 5. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM | 24 |
| 5.1. Ban hành án lệ hoặc văn bản hướng dẫn nhằm thống nhất việc áp dụng quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt | 24 |
| 5.2. Bổ sung quy định về trường hợp đặc biệt được áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt khi không có 02 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS hoặc không thuộc trường hợp người giúp sức có vai trò không đáng kể trong vụ án đồng phạm | 25 |
| 5.3. Ban hành văn bản hướng dẫn đối với trường hợp có từ hai tình tiết giảm nhẹ nhưng đồng thời có nhiều tình tiết tăng nặng | 27 |
| 5.4. Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về “vai trò không đáng kể” của người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm theo quy định tại khoản 2 Điều 54 BLHS | 28 |
| KẾT LUẬN | 30 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 31 |
LỜI MỞ ĐẦU
Trong lĩnh vực hình sự, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đóng vai trò then chốt nhằm bảo đảm tính công bằng, nhân đạo và hiệu quả trong xử lý tội phạm. Một trong những biểu hiện rõ nét của nguyên tắc này là việc cho phép Tòa án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định cho từng tội danh. Đây không chỉ là một cơ chế linh hoạt để cân nhắc các yếu tố nhân thân, tình tiết giảm nhẹ hay hoàn cảnh phạm tội, mà còn thể hiện quan điểm nhân đạo của pháp luật hình sự hiện đại.
Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia có hệ thống pháp luật chịu ảnh hưởng từ truyền thống pháp lý xã hội chủ nghĩa, song mỗi nước lại có cách tiếp cận và quy định pháp lý khác nhau trong vấn đề quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Việc nghiên cứu, so sánh các quy định này không chỉ góp phần làm rõ sự khác biệt và tương đồng trong lập pháp, mà còn giúp rút ra những kinh nghiệm lập pháp và thực tiễn có giá trị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam.
Tiểu luận này sẽ tập trung phân tích, đối chiếu quy định pháp luật hình sự hiện hành của Việt Nam và Trung Quốc liên quan đến việc áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Từ đó đưa ra một số nhận xét, đánh giá và kiến nghị mang tính xây dựng cho Việt Nam.
CHƯƠNG 1. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT ĐƯỢC ÁP DỤNG
Từ quy định tại Điều 54 BLHS năm 2015 nhóm chia thành hai nội dung chính bao gồm: điều kiện áp dụng và phương án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.
1.1. Điều kiện áp dụng quy định quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
Trường hợp thứ nhất, người phạm tội có từ hai tình tiết giảm nhẹ (TTGN) quy định tại Khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.
Trường hợp thứ hai, người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.
1.1.1. Trường hợp thứ nhất
Điều kiện đặt ra đối với trường hợp thứ nhất quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 54 BLHS năm 2015 là người phạm tội phải có ít nhất hai TTGN tại Khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 thì Tòa án có thể áp dụng Điều 54 BLHS năm 2015 đối với người phạm tội, điều kiện này đặt ra đối mọi hình thức phạm tội không phân biệt phạm tội độc lập hay phạm tội có tính chất đồng phạm. Có thể nhận thấy các TTGN tại Khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 có liên quan trực tiếp đến Khoản 1 Điều 54 BLHS năm 2015.
Do các TTGN tại Khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 có ảnh hưởng trực tiếp đến việc QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nên trong quá trình áp dụng cần chú ý một số nội dung sau để tránh áp dụng sai lầm các TTGN:
- Thứ nhất, theo quy định của BLHS thì các TTGN đã được quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là TTGN trong khi QĐHP[1]. Từ đó suy ra các tình tiết này cũng không được coi là TTGN khi QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng tức không được coi là điều kiện áp dụng tại Khoản 1 Điều 54 BLHS năm 2015 nếu đã là dấu hiệu định tội hoặc định khung.
- Thứ hai, Khoản 1 Điều 54 BLHS năm 2015 đã nêu rõ điều kiện áp dụng quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng như sau: “khi người phạm tội có ít nhất hai TTGN quy định tại Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này”. Vì vậy có thể QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng khi chỉ thỏa một điểm tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 vì câu chữ của điều luật không phụ thuộc vào số lượng điểm của Khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 mà phụ thuộc vào số lượng TTGN tại Khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Ví dụ: Nguyễn Văn A bị truy tố, đưa ra xét xử theo quy định tại Khoản 2 Điều 178 Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù. Nhưng A tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại đồng thời A cũng khắc phục hậu quả do mình gây ra. Vậy khi QĐHP theo Khoản 1 Điều 54 BLHS năm 2015 Tòa án chỉ áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 đã có thể quyết định áp dụng mức hình phạt dưới 2 năm tù đối với A.
- Thứ ba, điều kiện áp dụng dựa trên TTGN bắt buộc phải là các tình tiết quy định tại Khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Các tình tiết ở Khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 không được coi là điều kiện áp dụng trong trường hợp QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Mặc dù bị cáo đầu thú hoặc Tòa án xác định bị cáo có nhiều TTGN khác đi chăng nữa cũng chỉ có giá trị khi QĐHP trong trường hợp thông thường, đối với trường hợp QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng thì không được áp dụng.
1.1.2. Trường hợp thứ hai
Đối với trường hợp thứ hai điều kiện đặt ra được quy định tại Khoản 2 Điều 54 BLHS năm 2015 là “người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể”. Khác với trường hợp thứ nhất nhà làm luật chỉ đặt ra đối với các vụ án có tính chất đồng phạm không áp dụng cho trường hợp phạm tội độc lập.
[1] Khoản 3 Điều 51 BLHS năm 2015.
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 31 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với 119.000 VNĐ!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
- Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 nghị quyết của hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4 tháng 8 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của bộ luật hình sự năm 1999.
- Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC (Giải đáp nghiệp vụ) ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao;
- Nguyễn Duy Phương và các tác giả khác (2020), Bình luận chuyên sâu Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) – Phần chung, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr. 303.
- Trần Hải Xuân (2019), “Áp dụng Khoản 2 Điều 54 BLHS năm 2015 còn nhiều vướng mắc về điều kiện”, Tạp chí Tòa án.
- Lê Đình Nghĩa (2023), “Về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tại Điều 54 BLHS năm 2015”, [https://tapchitoaan.vn/ve-quyet-dinh-hinh-phat-duoi-muc-thap-nhat-cua-khung-hinh-phat-tai-dieu-54-blhs-nam-20159701.html] (truy cập ngày 12/3/2025)
- Phạm Cao Sơn (2025), “Bàn về chế định quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và thực tiễn áp dụng”, [https://lsvn.vn/ban-ve-che-dinh-quyet-dinh-hinh-phat-duoi-muc-thap-nhat-cua-khung-hinh-phat-va-thuc-tien-ap-dung-1726671048-a147404.html] (truy cập ngày 13/3/2025)
- Bộ luật Hình sự Trung Quốc [https://natlex.ilo.org/dyn/natlex2/r/natlex/fe/details?p3_isn=5375].
