THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 16 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0049.
- Pháp luật áp dụng: Luật Cạnh tranh năm 2018
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG HOẶC KHẢ NĂNG GÂY TÁC ĐỘNG CỦA THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG CÁC VỤ VIỆC CẠNH TRANH | 2 |
| 1.1. Khái niệm cơ bản | 2 |
| 1.1.1. Cạnh tranh, chính sách và pháp luật cạnh tranh | 2 |
| 1.1.2. Vụ việc cạnh tranh | 3 |
| 1.1.3. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh | 3 |
| 1.1.4 Đánh giác tác động hoặc khả năng gây tác động của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh | 4 |
| 1.1.5. Quy định pháp luật Việt Nam về đánh giá tác động của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong một vụ việc cạnh tranh | 5 |
| CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG HOẶC KHẢ NĂNG GÂY TÁC ĐỘNG CỦA THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG CÁC VỤ VIỆC CẠNH TRANH | 9 |
| 2.1. Một số bất cập của pháp luật Việt Nam về đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong các vụ việc cạnh tranh | 9 |
| 2.2. Hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong các vụ việc cạnh tranh | 10 |
| KẾT LUẬN | 12 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 13 |
LỜI MỞ ĐẦU
Cạnh tranh là quy luật vận động cơ bản, đồng thời là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Xét một cách toàn diện thì cạnh tranh là một xu hướng chi phối mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. Song cũng chính từ quá trình cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế lại xuất hiện những yếu tố mà nếu không được pháp luật điều chỉnh thì sẽ dẫn đến triệt tiêu cạnh tranh. Tuy nhiên, các thỏa thuận giữa các đối thủ cạnh tranh không phải lúc nào cũng gây nên những tổn hại đến cạnh tranh và người tiêu dùng. Trong những trường hợp nhất định, các thỏa thuận này có thể mang lại giá trị thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường. Một trong những khía cạnh tích cực của các thỏa thuận thúc đẩy cạnh tranh là các thỏa thuận về nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới. Đồng thời, cũng có những thỏa thuận mang tính chất phản cạnh tranh, nhưng dưới những điều kiện nhất định, các thỏa thuận này lại phát huy giá trị thúc đẩy cạnh tranh. Cho nên, nhằm mục đích tạo tính hiệu quả của hoạt động kiểm soát các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, pháp luật Việt Nam đã có những quy định về đánh giá tác động thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cạnh tranh.
Bệnh cạnh những quy định của pháp luật về đánh giá tác động thỏa thuận hạn chế cạnh tranh vẫn còn những bất cập mà pháp luật chưa quy định tạo ra một lỗ hỏng trong việc thực thi. Vậy nên tác giả đề tài tiểu luận xin phép được chọn đề tài “Quy định của pháp luật Việt Nam về đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong các vụ việc cạnh tranh – Một số bất cập và giải pháp hoàn thiện” làm đề tài nghiên cứu của mình.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG HOẶC KHẢ NĂNG GÂY TÁC ĐỘNG CỦA THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG CÁC VỤ VIỆC CẠNH TRANH
1.1. Khái niệm cơ bản
1.1.1. Cạnh tranh, chính sách và pháp luật cạnh tranh
1.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Khái niệm cạnh tranh với tư cách là một hiện tượng kinh tế, xuất hiện và tồn tại như là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, phản ánh năng lực phát triển của kinh tế thị trường. Với cách tiếp cận này, Từ điển Kinh doanh của Anh năm 1992 đã định nghĩa “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. Từ điển Luật học cũng giải thích “cạnh tranh là sự đua tranh về kinh tế giữa các nhà kinh doanh có những lợi ích giống nhau trên cùng thị trường bằng các phương thức khác nhau để giành được nhiều nhất về phía mình khách hàng, thị trường và thị phần của một thị trường qua đó thu lợi nhuận nhiều hơn”[1].
Theo quan điểm trên, xét từ góc độ các chủ thể của hành vi thì cạnh tranh được coi là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng. Nếu nhìn khái quát trên quy mô toàn xã hội, thì cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực, tài nguyên một cách tối ưu, do đó là động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, cạnh tranh có bản chất kinh tế và bản chất xã hội. Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện mục đích tạo lập cho mình một ưu thế chi phối thị trường và vì lợi nhuận. Bản chất xã hội của cạnh tranh phản ánh đạo đức kinh doanh và uy tín của mỗi chủ thể cạnh tranh trong mối quan hệ đối với những người trực tiếp tạo ra tiềm lực cạnh tranh của doanh nghiệp và trong mối quan hệ với người tiêu dùng và với các đối thủ cạnh tranh khác[2].
1.1.1.2. Các hình thái cạnh tranh
Cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo
Cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh
1.1.2. Vụ việc cạnh tranh
Vụ việc cạnh tranh là vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh. Hầu hết luật cạnh tranh của các nước quy định vụ việc cạnh tranh bao gồm vụ việc liên quan đến thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (chiều dọc và chiều ngang); lạm dụng vị trí thống lĩnh/độc quyền (lạm dụng sức mạnh thị trường) và tập trung kinh tế gây hạn chế cạnh tranh.
Căn cứ quy định tại Luật cạnh tranh 2018 quy định: “ Vụ việc cạnh tranh là vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh bị điều tra, xử lý theo quy định của Luật cạnh tranh, bao gồm vụ việc hạn chế cạnh tranh, vụ việc vi phạm quy định về tập trung kinh tế và vụ việc cạnh tranh không lành mạnh.”[3]
1.1.3. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là một trong những hành vi hạn chế cạnh tranh nghiêm trọng gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế và người tiêu dùng. Mỗi quốc gia có thể sử dụng thuật ngữ khác nhau, tuy nhiên, nội hàm thì tương đối giống nhau, theo đó “thoả thuận hạn chế cạnh tranh là thoả thuận, hợp đồng hay sự câu kết giữa hai hoặc nhiều doanh nghiệp dưới bất kỳ hình thức nào nhằm mục đích, có tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh trên thị trường”. Nói cách khác, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là thỏa thuận giữa các bên tham gia gây tác động ngăn cản, bóp méo hoặc hạn chế cạnh tranh trên thị trường.
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm thỏa thuận theo chiều ngang và thỏa thuận theo chiều dọc. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc thường được coi là ít gây tác động hạn chế cạnh tranh hơn (ít nghiêm trọng hơn) so với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang.
Với pháp luật cạnh tranh Việt Nam, Khoản 3 Điều 11 Nghị định 35/2020/NĐ-CP quy định:
“Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được coi là không gây ra hoặc không có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan, khi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia thoả thuận nhỏ hơn 5%;
b) Đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kinh doanh ở các công đoạn khác nhau trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hoá, dịch vụ nhất định, khi thị phần của từng doanh nghiệp tham gia thoả thuận nhỏ hơn 15%.”[4]
Có thể nói, bất kỳ thỏa thuận nào giữa các doanh nghiệp đều có tác dụng hạn chế hoặc giới hạn sự tự do hành động giữa các bên.
1.1.4 Đánh giác tác động hoặc khả năng gây tác động của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Căn cứ quy định tại Điều 13 Luật Cạnh tranh năm 2018 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2019) thì Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh căn cứ vào một số yếu tố sau đây:
Mức thị phần của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận;
Rào cản gia nhập, mở rộng thị trường;
Hạn chế nghiên cứu, phát triển, đổi mới công nghệ hoặc hạn chế năng lực công nghệ;
Giảm khả năng tiếp cận, nắm giữ cơ sở hạ tầng thiết yếu;
Tăng chi phí, thời gian của khách hàng trong việc mua hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hoặc khi chuyển sang mua hàng hóa, dịch vụ liên quan khác;
Gây cản trở cạnh tranh trên thị trường thông qua kiểm soát các yếu tố đặc thù trong ngành, lĩnh vực liên quan đến các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận.[5]
Tác động hạn chế cạnh tranh là tác động loại trừ, làm giảm, sai lệch hoặc cản trở các yếu tố cạnh tranh nói trên. Tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể là tác động loại trừ, làm giảm, sai lệch hoặc cản trở các yếu tố cạnh tranh trên thị trường một cách đáng kể. “Loại trừ” được hiểu là việc một doanh nghiệp đơn phương hoặc phối hợp với doanh nghiệp khác loại bỏ doanh nghiệp mục tiêu ra khỏi thị trường. Việc loại bỏ có thể thực hiện thông qua một số cách thức như định giá hủy diệt, ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia thị trường (tiếp cận đầu vào, tiếp cận khách hàng) từ đó làm giảm khả năng và động cơ của đối thủ cạnh tranh hiện tại và tiềm năng trên thị trường. Việc loại bỏ, ngăn chặn như vậy có thể ngăn cản sự gia nhập hoặc mở rộng của đối thủ cạnh tranh buộc họ phải rút khỏi thị trường.[6]
1.1.5. Quy định pháp luật Việt Nam về đánh giá tác động của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong một vụ việc cạnh tranh
Điều 13 Luật Cạnh tranh quy định về đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đáng kể của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, cụ thể như sau:
“1. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh căn cứ vào một số yếu tố sau đây:
a) Mức thị phần của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận;
b) Rào cản gia nhập, mở rộng thị trường;
c) Hạn chế nghiên cứu, phát triển, đổi mới công nghệ hoặc hạn chế năng lực công nghệ;
d) Giảm khả năng tiếp cận, nắm giữ cơ sở hạ tầng thiết yếu;
đ) Tăng chi phí, thời gian của khách hàng trong việc mua hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hoặc khi chuyển sang mua hàng hóa, dịch vụ liên quan khác;
e) Gây cản trở cạnh tranh trên thị trường thông qua kiểm soát các yếu tố đặc thù trong ngành, lĩnh vực liên quan đến các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận.
2. Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 Điều này”.[7]
Điều 11 Nghị định 35/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh quy định nội dung đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của thoả thuận hạn chế cạnh tranh:
“1. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 và 4 Điều 12 của Luật Cạnh tranh.
2. Việc đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được căn cứ vào một hoặc một số yếu tố như sau:
a) Diễn biến, xu hướng thay đổi mức thị phần của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận được đánh giá trong tương quan với các doanh nghiệp khác là đối thủ cạnh tranh không tham gia thỏa thuận;
b) Rào cản gia nhập, mở rộng thị trường được đánh giá để xác định tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh của thỏa thuận căn cứ vào những yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết định của doanh nghiệp khi gia nhập, mở rộng thị trường quy định tại Điều 8 Nghị định này;
c) Hạn chế nghiên cứu, phát triển, đổi mới công nghệ hoặc hạn chế năng lực công nghệ được đánh giá để xác định tác động hoặc khả năng gây tác động của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đối với mục tiêu nghiên cứu, phát triển, đổi mới công nghệ hoặc nâng cao năng lực công nghệ trong ngành và lĩnh vực liên quan;
d) Giảm khả năng tiếp cận, nắm giữ cơ sở hạ tầng thiết yếu được đánh giá căn cứ vào mức độ thiết yếu của cơ sở hạ tầng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và chi phí, thời gian để các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh không tham gia thỏa thuận có thể tiếp cận, nắm giữ cơ sở hạ tầng đó hoặc cơ sở hạ tầng tương tự;
đ) Tăng chi phí, thời gian của khách hàng trong việc mua hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hoặc khi chuyển sang mua hàng hóa, dịch vụ liên quan khác được xác định bằng việc so sánh chi phí, thời gian cần thiết của khách hàng khi mua hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hoặc khi chuyển sang mua hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh trước và sau khi có thỏa thuận;
e) Gây cản trở cạnh tranh trên thị trường thông qua kiểm soát các yếu tố đặc thù trong ngành, lĩnh vực liên quan đến các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận được xác định dựa trên mức độ chi phối của các yếu tố đặc thù đó đối với hoạt động cạnh trạnh của các doanh nghiệp trên thị trường.
[1] Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp: Từ điển Luật học, Nhà xuất bản từ điển bách khoa, Nhà xuất bản từ điển Tư pháp, năm 2005, Trang 105.
[2] Nguyễn Như Phát, Bùi Nguyên Khánh: Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 2001, Hà Nội, trang 19.
[3] Luật Cạnh tranh năm 2018.
[4] Khoản 3 Điều 11 NĐ 35/2020/NĐ-CP.
[5] Điều 13 Luật Cạnh tranh 2018.
[6] Báo cáo nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đáng kể của vụ việc cạnh tranh và đề xuất xây dựng hướng dẫn đánh giá tác động hạn chế cạnh tranh đáng kể cho Việt Nam, Nhà xuất bản Hà Nội, tháng 04 năm 2021.
[7] Điều 13 Luật Cạnh tranh 2018.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0049″]
