
- Trường học: Đại học Luật Hà Nội
- Điểm số: 8.75 điểm
- Số trang: 17 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B1014 | Năm 2025
- Luật áp dụng: Bộ luật Hình sự 2015 (SĐ,BS 2017,2024,2025)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG TIỂU LUẬN
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

XEM TRƯỚC TRANG MỤC LỤC

MỤC LỤC TIỂU LUẬN CHI TIẾT
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM | 2 |
| 1.1. Khái niệm về pháp nhân thương mại | 2 |
| 1.2. Điều kiện và phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại | 3 |
| 1.2.1. Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại | 4 |
| 1.2.2. Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại | 4 |
| 1.2.3. Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại | 5 |
| 1.2.4. Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, 3 Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 2015 | 6 |
| 1.3. Lỗi | 7 |
| CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG | 8 |
| 2.1. Quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 về hình phạt với pháp nhân thương mại | 8 |
| 2.2. Ưu, nhược điểm của Bộ luật Hình sự năm 2015 về hình phạt đối với pháp nhân thương mại | 10 |
| 2.2.1. Ưu điểm | 10 |
| 2.2.2. Nhược điểm | 10 |
| CHƯƠNG 3. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VỀ HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI | 11 |
| 3.1. Quy định của Trung Quốc | 11 |
| 3.2. Quy định của Pháp | 12 |
| CHƯƠNG 4. QUAN ĐIỂM CÁ NHÂN VỀ CHẾ ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN | 14 |
| 4.1. Quan điểm cá nhân về chế định hình phạt | 14 |
| 4.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam | 15 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: | 17 |
LỜI MỞ ĐẦU
Từ xa xưa, khi các cộng đồng con người hình thành đã xuất hiện các giao dịch để trao đổi hàng hóa nhằm mua bán kiếm tiền, sử dụng cho nhu cầu của bản thân… Ngày nay, với sự tiến bộ không ngừng nghỉ của con người về tất cả các mặt trong đời sống như kinh tế, văn hóa, xã hội… đã góp phần thúc đẩy sự phát triển đất nước ngày càng tốt hơn, đem lại nhiều lợi ích cho cá nhân và cộng đồng. Xu hướng hội nhập quốc tế cũng đã giúp hình thành nên những giao dịch xuyên quốc gia ngày càng nhiều và đa dạng hơn, từ các mặt hàng đến người tham gia trao đổi mua bán hàng hóa.
Trong đó, có một chủ thể tham gia vào các hoạt động giao dịch khá đặc biệt, đó là pháp nhân thương mại. Lịch sử hình thành và phát triển của luật Hình sự Việt Nam vào thế kỉ XX đã cho thấy: Pháp luật hình sự nước ta ghi nhận nguyên tắc lỗi và nguyên tắc phân hóa TNHS, nhưng không ghi nhận TNHS và hình phạt đối với pháp nhân. Pháp luật hình sự ở nước ta trong thế kỉ vừa qua một phần do bộ máy nhà nước thời đó, một phần chịu ảnh hưởng nhiều bởi hệ thống pháp luật hình sự của các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là của Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu – những nước không thiết lập chế định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân.
Hiện nay trong pháp luật hình sự Việt Nam, cụ thể là trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung) lần đầu tiên quy định về pháp nhân thương mại. Tuy nhiên những quy định chưa được rõ ràng và tồn tại khá nhiều lỗ hổng trên thực tế trong việc quy định hình phạt dành cho đối tượng này. Xuất phát từ vấn đề trên, bài tiểu luận này sẽ tìm hiểu, phân tích về hình phạt dành cho pháp nhân thương mại ở Việt Nam và so sánh với pháp luật nước ngoài quy định liên quan đến việc quy định hình phạt đối với pháp nhân thương mại, từ đó rút ra kinh nghiệm để tiếp thu và học hỏi.
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm về pháp nhân thương mại
– Hiện nay trong BLHS năm 2015 chưa có định nghĩa cụ thể về PNTM. Dựa vào quy định tại Điều 75 BLDS 2015 thì PNTM được định nghĩa như sau:
“1. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.
2. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.
3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.”
– Theo quy định này, để được công nhận là PNTM thì pháp nhân đó phải thỏa mãn các điều kiện sau:
Thứ nhất, PNTM phải là pháp nhân. Theo Điều 74 BLDS 2015 quy định về pháp nhân như sau:
“1. Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;
b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;
c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
2. Mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.”
Thứ hai, PNTM có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.
Không phải mọi pháp nhân được thành lập đều là pháp nhân thương mại vì theo quy định của pháp luật hiện hành còn có pháp nhân phi thương mại (được quy định tại Điều 76 BLDS năm 2015).
Thứ ba, PNTM phải là doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế khác. Tại khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định:
“10. Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.”
Và tại khoản 21 Điều 3 Luật Đầu tư 2020 quy định:
“21. Tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”.
1.2. Điều kiện và phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại
Về điều kiện chịu TNHS của PNTM được quy định tại Điều 75 BLHS năm 2015:
“1. Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;
b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;
c) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;
d) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.
2. Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.”
Theo quy định trên, PNTM chỉ phải chịu TNHS khi có đủ 4 điều kiện sau:
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 17 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với 89.000 VNĐ!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Hiến pháp năm 2013
- Bộ luật Dân sự năm 2015
- Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
- Luật Doanh nghiệp 2020
- Luật Đầu tư 2020
- Bộ luật Hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)
- Bộ luật Hình sự Cộng hòa Pháp năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2005)
- Dương Tuyết Miên (2024), “Bàn về hình phạt áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội trong Bộ luật Hình sự năm 2015”, Tạp chí Kiểm sát số 02/2024
- Bùi Văn Hưng (2017), “Tìm hiểu đơn vị phạm tội trong các tội phạm tham nhũng và một số tội phạm về chức vụ theo quy định của BLHS Trung Quốc“, Tạp chí Kiểm sát số 15/2017
- Hoàng Chí Kiến, “Quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân tại một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam”, https://tapchitoaan.vn/quy-dinh-ve-trach-nhiem-hinh-su-cua-phap-nhan-tai-mot-so-quoc-gia-tren-the-gioi-va-kinh-nghiem-cho-viet-nam10659.html
- P.N.Hằng, “Quy định về pháp nhân thương mại trong pháp luật Việt Nam”, https://moj.gov.vn/qt/cacchuyenmuc/pldn/Pages/pho-bien-pl-doanh- nghiep.aspx?ItemID=139
- Văn Chiến, “Chế tài đối với pháp nhân thương mại phạm tội: Qui định của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam”, https://phaply.net.vn/che-tai-doi-voi-phap-nhan-thuong-mai-pham-toi-qui-dinh-cua-mot-so-nuoc-tren-the-gioi-va-kinh-nghiem-cho-viet-nam-a242347.html
- Nguyễn Xuân Thanh, Bùi Thế Phương, “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong bộ luật hình sự năm 2015”, https://vksbinhdinh.gov.vn/newsdetail.asp?newsID=10835&cat1id=3&Cat2id=7
- Nguyễn Hoàng Chi Mai, “Trách nhiệm hình sự của cơ quan, đơn vị, tổ chức trong Bộ luật Hình sự Trung Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam”.
