
- Trường học: Đại học Luật Hà Nội
- Điểm số: 8.00 điểm
- Số trang: 07 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B0979 | Năm 2025
- Luật áp dụng: Bộ luật Hình sự 2015 (SĐ,BS 2017, 2024, 2025)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG TIỂU LUẬN
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

XEM TRƯỚC TRANG MỤC LỤC

MỤC LỤC TIỂU LUẬN CHI TIẾT
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| LỜI NÓI ĐẦU | 1 |
| NỘI DUNG TIỂU LUẬN | 2 |
| 1. Điểm tương đồng đối với trường hợp miễn, giảm trách nhiệm hình sự liên quan đến tình trạng bệnh tật theo BLHS Việt Nam và BLHS Liên Bang Nga | 2 |
| 2. Điểm khác biệt đối với trường hợp miễn, giảm trách nhiệm hình sự liên quan đến tình trạng bệnh tật theo BLHS Việt Nam và BLHS Liên Bang Nga | 2 |
| 3. Kiến nghị | 5-7. |
LỜI MỞ ĐẦU
Miễn, giảm trách nhiệm hình sự là một trong những chế định quan trọng của luật hình sự Việt Nam, có quan hệ chặt chẽ và gắn liền với chế định trách nhiệm hình sự. Việc quy định chế định miễn, giảm trách nhiệm trong pháp luật hình sự có ý nghĩa quan trọng không những động viên người phạm tội nhanh chóng hoà nhập với cộng đồng, mà còn tạo cơ sở pháp lý cho sự kết hợp các biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhà nước với các biện pháp tác động xã hội trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, là một cách hiệu quả của việc thực hiện tốt việc áp dụng trách nhiệm hình sự và hình phạt. Pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành quy định cụ thể các trường hợp miễn giảm trách nhiệm hình sự liên quan đến tình trạng bệnh tật. So sánh với bộ luật hình sự Liên bang Nga về trường hợp miễn, giảm trách nhiệm liên quan đến tình trạng bệnh tật, bộ luật hình sự Việt Nam có những điểm tương đồng và khác biệt nhất định.
1. Điểm tương đồng đối với trường hợp miễn, giảm trách nhiệm hình sự liên quan đến tình trạng bệnh tật theo BLHS Việt Nam và BLHS Liên Bang Nga
So với quy định miễn trách nhiệm hình sự do bệnh tật của bộ luật hình sự Việt Nam, quy định miễn chấp hành hình phạt do bệnh tật của bộ luật hình sự Liên Bang Nga có một số điểm giống nhau dưới đây:
Thứ nhất, BLHS của cả Việt Nam và Liên bang Nga đều coi đây là các biện pháp tha miễn trong luật hình sự, thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo trong chính sách pháp luật hình sự quốc gia.
Thứ hai, miễn, giảm trách nhiệm hình sự do bệnh tật theo quy định của BLHS Việt Nam và của BLHS Liên Bang Nga chỉ có thể áp dụng khi có những điều kiện cụ thể do pháp luật hình sự quy định đối với trường hợp đó. Cụ thể, BLHS Việt Nam quy định điều kiện được miễn, giảm trách nhiệm hình sự do bệnh tật tại các điều: Điều 29, Điều 62, Điều 64, Điều 67 BLHS hiện hành; BLHS Liên Bang Nga quy định điều kiện miễn chấp hành hình phạt do bệnh tật tại Điều 81 BLHS hiện hành.
Thứ ba, miễn trách nhiệm hình sự hay miễn chấp hành hình phạt, người phạm tội không phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội hay của việc quyết định hình phạt.
2. Điểm khác biệt đối với trường hợp miễn, giảm trách nhiệm hình sự liên quan đến tình trạng bệnh tật theo BLHS Việt Nam và BLHS Liên Bang Nga
Ngoài những điểm tương đồng nêu trên, giữa miễn trách nhiệm hình sự do bệnh tật theo BLHS Việt Nam và miễn chấp hành hình phạt do bệnh tật theo BLHS Liên Bang Nga cũng có một số điểm khác nhau cơ bản dưới đây:
Thứ nhất, về phạm vi và cơ sở pháp lý: BLHS Việt Nam quy định trường hợp miễn trách nhiệm hình sự liên quan đến bệnh tật tại điểm b khoản 2 Điều 29 BLHS hiện hành; đồng thời quy định các trường hợp giảm trách nhiệm hình sự (thông qua miễn, giảm chấp hành hình phạt) liên quan đến bệnh tật tại điểm b khoản 2 Điều 62 (Miễn chấp hành hình phạt); Điều 64 (Giảm thời hạn chấp hành hình phạt); Điều 67 (Hoãn chấp hành hình phạt tù). BLHS Liên Bang Nga quy định một điều luật riêng đối với trường hợp này, cụ thể tại Điều 81 (Miễn chấp hành hình phạt do bệnh tật). Có thể thấy, phạm vi quy định các trường hợp miễn, giảm trách nhiệm hình sự theo BLHS Việt Nam rộng hơn BLHS Liên Bang Nga, thể hiện ở cả số lượng Điều Luật và hình thức áp dụng.
Thứ hai, về đối tượng áp dụng: BLHS Việt Nam quy định một đối tượng duy nhất – “người mắc bệnh hiểm nghèo” nếu đủ điều kiện sẽ được áp dụng miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn, giảm chấp hành hình phạt. Ngoài ra, biện pháp hoãn chấp hành hình phạt tù có thể áp dụng đối với “người bị bệnh nặng” thì sẽ được hoãn cho đến khi sức khoẻ được phục hồi. Tại BLHS Liên Bang Nga, phạm vi đối tượng được miễn hình phạt do bệnh tật mở rộng hơn và cụ thể hơn so với quy định BLHS Việt Nam, cụ thể có ba đối tượng sau đây:
- (i) Người phạm tội bị rối loạn tâm thần;
- (ii) Người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo;
- (iii) Quân nhân trong trường hợp bị bệnh.
Thứ ba, về điều kiện áp dụng: BLHS Việt Nam quy định điều kiện phạm tội đối với từng biện pháp, miễn giảm trách nhiệm hình sự và hình phạt. Theo đó, có hai điều kiện người phạm tội được miễn TNHS theo BLHS Việt Nam gồm:
- (i) Mắc bệnh hiểm nghèo,
- (ii) Không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội;
Đối với trường hợp miễn chấp hành hình phạt cần đáp ứng các điều kiện sau:
- (i) Người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt,
- (ii) Mắc bệnh hiểm nghèo;
Đối với trường hợp giảm thời hạn chấp hành hình phạt cần đáp ứng:
- (i) Người bị kết án có lý do chính đáng,
- (ii) Mắc bệnh hiểm nghèo;
Và trường hợp hoãn chấp hành hình phạt tù phải đáp ứng điều kiện “bị bệnh nặng”.
Đối với phạm vi điều kiện áp dụng quy định miễn hình phạt do bệnh tật theo pháp luật hình sự Liên Bang Nga, điều kiện áp dụng như sau:
- (i) Người phạm tội bị bị rối loạn tâm thần làm mất đi khả năng nhận thức được bản chất thực tế và tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành động mình (không hành động) hoặc để kiểm soát chúng (khoản 1 Điều 81);
- (ii) Người mắc bệnh hiểm nghèo cản trở việc thi hành án (khoản 2 Điều 81) ;
- (iii) Quân nhân đang chấp hành án bắt giữ hoặc giam giữ kỷ luật trong đơn vị quân đội được miễn chấp hành án trong trường hợp bị bệnh khiến họ không đủ sức khỏe để tham gia nghĩa vụ quân sự (khoản 3 Điều 81).
Như vậy, mặc dù BLHS Việt Nam quy định nhiều điều kiện áp dụng với từng trường hợp cụ thể hơn nhưng có thể thấy BLHS Liên Bang Nga lại có sự giải thích các điều kiện áp dụng trong khi đó BLHS Việt Nam chỉ dừng lại ở mức độ “chỉ điểm”. Cụ thể, BLHS Việt Nam chỉ mới đặt ra vấn đề “người mắc bệnh hiểm nghèo” hay “không còn khả năng nguy hiểm cho xã hội” nhưng hiểu thế nào là bệnh hiểm nghèo, thế nào là “không còn khả năng nguy hiểm cho xã hội” thì phải đi tìm câu trả lời ở các văn bản của các cơ quan chức năng có liên quan. Nhưng BLHS Liên Bang Nga lại có sự cụ thể hoá về tình trạng bệnh tật ngay trong chính điều luật như “Người phạm tội bị bị rối loạn tâm thần làm mất đi khả năng nhận thức được bản chất thực tế và tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành động mình (không hành động) hoặc để kiểm soát chúng” (khoản 2 Điều 81). Việc quy định cụ thể các điều kiện áp dụng sẽ phần nào giúp nhà làm luật thực hiện đúng tinh thần của điều luật và đảm bảo quá trình thực hành pháp luật hiệu quả.
Thứ tư, về hậu quả pháp lý: Trường hợp người phạm tội bị bệnh hiểm nghèo và không còn gây nguy hiểm cho xã hội nữa theo quy định tại BLHS Việt Nam đương nhiên được miễn hình phạt hay đương nhiên không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội mà mình phải thực hiện. Trong khi đó, các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự/miễn hình phạt do bệnh tật theo quy định của BLHS Liên Bang Nga không có nghĩa là được miễn luôn, mà người phạm tội nếu khỏi bệnh thì vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành hình phạt nếu như thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thời hiệu thi hành bản án vẫn còn.
Theo quy định của BLHS Việt Nam, nếu người phạm tội được miễn TNHS hoặc miễn/giảm chấp hành hình phạt thì họ không phải chịu thêm các hậu quả pháp lý khác như bắt buộc chữa bệnh hoặc bị thay thế hình phạt tù bằng một hình phạt khác nhẹ hơn, thậm chí có nguy cơ vẫn bị truy cứu TNHS hoặc chấp hành hình phạt nếu thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thời hiệu thi hành bản án vẫn còn. Nhưng theo BLHS Liên Bang Nga, người phạm tội mặc dù được miễn, giảm TNHS nhưng vẫn có nguy cơ:
- (i) Chấp hành các biện pháp y tế bắt buộc;
- (ii) Thay thế bằng một hình phạt nhẹ hơn;
- (iii) Trường hợp phục hồi sức khỏe, có thể phải chịu trách nhiệm hình sự và hình phạt, nếu chưa hết thời hiệu quy định.
Có thể thấy, BLHS Liên Bang Nga có sự quy định đa dạng các hậu quả pháp lý đối với từng trường hợp cụ thể, có sự dự liệu đối với các trường hợp miễn hình phạt đặc biệt đối với các trường hợp khỏi bệnh sẽ phải tiếp tục thực hiện phần trách nhiệm hình sự của mình. Điều này không chỉ thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhưng vẫn đảm bảo sự công bằng, nghiêm minh trong thực thi pháp luật.
Thứ năm, về cơ quan áp dụng: Chủ thể có thẩm quyền áp dụng các biện pháp miễn/giảm TNHS đối với người phạm tội do bệnh tật ở Liên Bang Nga chỉ có Tòa án, còn ở Việt Nam có thể gồm cả Tòa án, Viện kiểm sát hoặc Cơ quan điều tra. Cụ thể, theo pháp luật hình sự Việt Nam, đối với miễn trách nhiệm hình sự do bệnh, ngoài Toà án có thẩm quyền áp dụng trong giai đoạn xét xử thì Viện Kiểm sát có quyền áp dụng trong giai đoạn truy tố và Cơ quan điều tra có thầm quyền áp dụng trong giai đoạn điều tra. Đối với miễn/giảm chấp hành hình phạt thì do Tòa án quyết định.
3. Kiến nghị
Thứ nhất, cần quy định cụ thể các điều kiện áp dụng đối với các trường hợp miễn, giảm trách nhiệm hình sự liên quan đến bệnh tật theo BLHS Việt Nam. BLHS Liên Bang Nga quy định khá chi tiết các điều kiện áp dụng, cụ thể cùng là điều kiện người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo nhưng BLHS Liên Bang Nga nêu rõ “Người mắc bệnh hiểm nghèo cản trở việc thi hành án” (khoản 2 Điều 81). Nghĩa là người mắc bệnh hiểm nghèo và có gây ra cản trở việc thi hành án thì mới thuộc trường hợp miễn chấp hành hình phạt. Điều này phần nào giải thích cho những bất cập tại quy định của pháp luật Việt Nam nếu chỉ đơn thuần áp dụng cho người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo. Bởi lẽ dù mắc bệnh hiểm nghèo, nhưng ở giai đoạn đầu của bệnh, sức khỏe của người phạm tội vẫn còn tốt, hành vi phạm tội vẫn chưa hết nguy hiểm cho xã hội, họ vẫn còn có thể có hành vi khác gây nguy hiểm cho xã hội. Khi người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo ở giai đoạn cuối, sức khỏe của họ đã suy kiệt đến mức không thể có hành vi nào khác gây nguy hiểm cho xã hội nữa mới được xem xét miễn trách nhiệm hình sự, qua đó thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo vừa thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Hoặc quy định “không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội” tại điểm b khoản 2 Điều 29 BLHS Việt Nam trên thực tiễn còn bộc lỗ những vưỡng mắc, hiểu thế nào là không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội. Việc đánh giá một người không còn nguy hiểm cho xã hội nữa phải căn cứ vào nhiều yếu tố, phải khách quan toàn diện và hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Đây là trường hợp miễn trách nhiệm hình sự có tính chất tùy nghi, vì vậy có những quan điểm khác nhau khi áp dụng. Ở BLHS Liên Bang Nga, khoản 1 Điều 81 có quy định “Người phạm tội bị bị rối loạn tâm thần làm mất đi khả năng nhận thức được bản chất thực tế và tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành động mình (không hành động) hoặc để kiểm soát chúng”, ngay trong điều luật cũng đã làm rõ tính chất, mức độ đối với hành vi của người phạm tội.
Chính vì vậy, cần có văn bản hướng dẫn để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng một cách chính xác, thống nhất giúp cho những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhận thức đầy đủ về căn cứ, điều kiện áp dụng cho từng trường hợp cụ thể, trên cơ sở đó ra quyết định áp dụng hoặc không áp dụng miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội chính xác.
Thứ hai, quy định thêm các chế tài làm cơ sở, điều kiện thực hiển tốt các biện pháp miễn, giảm trách nhiệm hình sự liên quan đến bệnh tật. Bởi lẽ, ngoài việc miễn trách nhiệm hình sự, miễn chấp hành hình phạt thì giảm thời hạn chấp hành hình phạt cũng là một hậu quả pháp lý mà người phạm tội vẫn có thể phải chấp hành hình phạt. Trong khi đó, tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định 134/2016/NĐ-CP quy đinh danh mục các bệnh hiểm nghèo quy định 42 loại bệnh, trong đó có các bệnh có khả năng lây lan trong cộng đồng, đặc biệt là nhiễm HIV (nhiễm HIV do nghề nghiệp). Tuy nhiên, chưa có các chế tài và biện pháp trực tiếp nhằm bảo vệ các cá nhân, tổ chức thực thi pháp luật và những cá nhân, tổ chức khác có thể tiếp xúc với người bệnh. Ở BLHS Liên Bang Nga, việc quy định các biện pháp y tế bắt buộc như đưa vào trại cai nghiện, cách ly đối với những người có khả năng lây nhiễm bệnh,… được quy định trực tiếp tại Điều 81 (Miễn chấp hành hình phạt). Điều này có ý nghĩa quan trọng đảm bảo sức khoẻ cho người bệnh cũng như những người xung quanh nhưng vẫn đạt hiệu quả răn đe đối với người phạm tội..
