
- Trường học: Đại học Luật Hà Nội
- Điểm số: 9.25 điểm
- Số trang: 31 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B0972 | Năm 2025
- Luật áp dụng: Bộ luật Hình sự 2015 (SĐ,BS 2017, 2024, 2025)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG TIỂU LUẬN
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

XEM TRƯỚC TRANG MỤC LỤC


MỤC LỤC TIỂU LUẬN CHI TIẾT
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1. CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN HÌNH PHẠT THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM | 2 |
| CHƯƠNG 2. CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN HÌNH PHẠT THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ TRUNG QUỐC | 7 |
| 2.1. Công nhận tiêu cực đối với bản án hình sự ở nước ngoài | 7 |
| 2.2. Trách nhiệm hình sự của người câm điếc, người mù phạm tội | 8 |
| 2.3. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng | 8 |
| 2.4. Vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết | 9 |
| 2.5. Chuẩn bị phạm tội | 9 |
| 2.6. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội | 10 |
| 2.7. Đồng phạm | 11 |
| 2.8. Người phạm tội do bị cưỡng bức | 12 |
| 2.9. Tự thú | 13 |
| 2.10. Lập công | 13 |
| 2.11. Quy định về miễn hình phạt trong một số tội phạm cụ thể | 14 |
| CHƯƠNG 3. SO SÁNH CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN HÌNH PHẠT THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ BỘ LUẬT HÌNH SỰ TRUNG QUỐC | 15 |
| 3.1. Cách thức thiết kế điều luật | 15 |
| 3.2. Công nhận tiêu cực đối với bản án hình sự ở nước ngoài | 16 |
| 3.3. Trách nhiệm hình sự của người câm điếc, người mù phạm tội | 17 |
| 3.4. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng | 18 |
| 3.5. Vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết | 19 |
| 3.6. Chuẩn bị phạm tội | 20 |
| 3.7. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội | 21 |
| 3.8. Đồng phạm | 21 |
| 3.9. Người phạm tội do bị cưỡng bức | 23 |
| 3.10. Tự thú, thành khẩn khai báo | 24 |
| 3.11. Người phạm tội lập công chuộc tội | 24 |
| 3.12. Người phạm tội vì động cơ chính đáng hoặc có công lao đặc biệt | 25 |
| CHƯƠNG 4. KINH NGHIỆM VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN HÌNH PHẠT CHO QUY ĐỊNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ BỘ LUẬT HÌNH SỰ TRUNG QUỐC | 27 |
| KẾT LUẬN | 30 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 31 |
LỜI MỞ ĐẦU
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, hình phạt được coi là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm trừng trị và giáo dục người phạm tội, đồng thời phòng ngừa tội phạm trong xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh tính nghiêm minh, pháp luật hình sự Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới còn thể hiện tính nhân đạo và khoan hồng thông qua việc ghi nhận các chế định đặc biệt, trong đó có chế định miễn hình phạt. Miễn hình phạt không đồng nghĩa với việc người phạm tội không bị coi là có tội, mà thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước trong những trường hợp người phạm tội thật sự đáng được khoan hồng, không còn nguy hiểm cho xã hội, hoặc đã có những hành vi khắc phục, lập công, tự giác chấm dứt hành vi nguy hiểm. Chính vì vậy, chế định này vừa góp phần bảo đảm công bằng, vừa khuyến khích người phạm tội cải tạo và tái hòa nhập cộng đồng.
Ở Việt Nam, Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025) đã quy định về miễn hình phạt tại Điều 59, đồng thời gắn với các điều khoản về tình tiết giảm nhẹ và các quy định liên quan. Trong khi đó, Bộ luật Hình sự Trung Quốc lại tiếp cận theo hướng quy định chi tiết hàng loạt trường hợp cụ thể có thể áp dụng miễn hình phạt, từ tự thú, lập công, chuẩn bị phạm tội, cho đến các trường hợp vượt quá phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết hoặc bị cưỡng bức phạm tội. Điều này cho thấy sự khác biệt về kỹ thuật lập pháp cũng như chính sách hình sự của hai quốc gia.
Từ góc nhìn lý luận và thực tiễn, việc nghiên cứu so sánh quy định về miễn hình phạt trong BLHS Việt Nam và Trung Quốc có ý nghĩa thiết thực. Một mặt, nó giúp nhận diện ưu điểm, hạn chế trong pháp luật hiện hành của Việt Nam; mặt khác, tạo cơ sở tham khảo những kinh nghiệm lập pháp tiến bộ từ Trung Quốc nhằm góp phần hoàn thiện chế định này, bảo đảm vừa nghiêm minh, vừa nhân đạo, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn mới.
CHƯƠNG 1. CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN HÌNH PHẠT THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Về bản chất, miễn hình phạt là chế định nhân đạo, cho phép Tòa án sau khi đã xác định có tội nhưng không buộc người phạm tội phải chấp hành hình phạt, nhằm phân biệt với miễn trách nhiệm hình sự – nơi trách nhiệm hình sự không còn được đặt ra. Quy định này hướng đến việc cá thể hóa trách nhiệm, bảo đảm công bằng và khuyến khích sự hợp tác, khắc phục hậu quả của người phạm tội.
Điều 59 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về miễn hình phạt, được xem là một chế định thể hiện rõ nét chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội. Theo đó, người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 BLHS, đồng thời “đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự”. Như vậy, điều luật này có mối liên hệ chặt chẽ với Điều 54 BLHS – quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Cụ thể, khoản 1 Điều 54 cho phép Tòa án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Khoản 2 Điều 54 lại mở rộng phạm vi cho phép áp dụng trong những trường hợp đặc biệt cho người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.
Điểm cốt lõi của Điều 59 là xác định tình huống mà người phạm tội vừa không đủ điều kiện để được miễn trách nhiệm hình sự (tức vẫn phải chịu sự kết án về mặt pháp lý), vừa có nhiều tình tiết giảm nhẹ đặc biệt và nhân thân tốt đến mức không cần thiết phải áp dụng hình phạt. Như vậy, miễn hình phạt là một “bước khoan hồng thấp hơn” so với miễn trách nhiệm hình sự, bởi người phạm tội vẫn bị coi là có tội nhưng không phải chịu hình phạt cụ thể. Chế định này có ý nghĩa trong việc tạo điều kiện cho người phạm tội sớm tái hòa nhập xã hội, giảm bớt sự kỳ thị của hình phạt, đồng thời thể hiện sự phân hóa, cá thể hóa hình phạt phù hợp với chính sách hình sự hiện hành.
Tuy nhiên, có hai quan điểm xoay quanh điều kiện để áp dụng chế định miễn hình phạt theo quy định tại Điều 59.
Thứ nhất, để được miễn hình phạt theo Điều 59 BLHS năm 2015, người phạm tội phải đồng thời đáp ứng cả hai điều kiện tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54, tức vừa có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51, vừa là người giúp sức trong vụ án đồng phạm, phạm tội lần đầu và giữ vai trò không đáng kể, đồng thời phải “đáng được khoan hồng đặc biệt” nhưng “chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự”. Cách hiểu này dựa trên việc giải thích từ ngữ “và” trong Điều 59 với ý nghĩa kết hợp đồng thời, bảo đảm nguyên tắc hợp hiến, hợp pháp và giữ tính nghiêm minh: chỉ trường hợp thật sự đặc biệt mới được miễn hình phạt, tránh lạm dụng chính sách nhân đạo.
Tuy nhiên, cách tiếp cận này có nhiều bất cập. Nó khiến phạm vi áp dụng Điều 59 quá hẹp, trên thực tế rất hiếm trường hợp vừa có nhiều tình tiết giảm nhẹ vừa chỉ giữ vai trò giúp sức không đáng kể, dẫn tới quy định gần như không được vận dụng, trái với mục tiêu khoan hồng. Đồng thời, nó tạo mâu thuẫn với tinh thần Điều 54, vốn coi khoản 1 và khoản 2 là hai trường hợp độc lập cho phép xử dưới mức thấp nhất của khung. Quan điểm này cũng không phù hợp với định hướng lập pháp và thực tiễn xét xử, bởi Nghị quyết 03/2020/HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã thừa nhận chỉ cần thuộc một trong hai trường hợp của Điều 54 là có thể xem xét miễn hình phạt nếu người phạm tội thật sự đáng khoan hồng. Ngoài ra, việc buộc phải đáp ứng đồng thời cả hai điều kiện làm giảm động cơ hợp tác, khắc phục hậu quả hay tự thú, đi ngược mục tiêu phòng ngừa đặc biệt.
Tóm lại, quan điểm thứ nhất có ưu điểm ở tính chặt chẽ và bảo đảm sự nghiêm minh, nhưng hạn chế lớn là thu hẹp quá mức phạm vi áp dụng, mâu thuẫn với tinh thần lập pháp, làm suy giảm giá trị nhân đạo của chế định miễn hình phạt và không tương thích thực tiễn. Do đó, cần có hướng giải thích linh hoạt hoặc sửa đổi luật để khẳng định rằng chỉ cần đáp ứng một trong hai điều kiện tại Điều 54, nếu người phạm tội thật sự đáng được khoan hồng đặc biệt, thì vẫn có thể được miễn hình phạt.
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 31 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với 109.000 VNĐ!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ luật Hình sự Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1979.
- Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi bổ sung 2017, 2024, 2025).
- Vụ án cướp và cố ý giết người của Li Guanrong [Số 611], https://mp.weixin.qq.com/s? biz=Mzg4MjEwMDY1Nw==&mid=2247484572&i dx=3&sn=f1ce8716bf5afa7ffe17709806d6e2bc&chksm=cf5a9442f82d1d54873f3 b47801b5dc2510a49ba385193b24805a574d8d2c0bb10ada20f5505&scene=21#we chat_redirect, truy cập ngày 11/9/2025.
- 刑法第二十七条【从犯】, https://www.055110.com/xs/5/770.html, truy cập ngày 11/9/2025.
- 刑法第二十八条【胁从犯】, https://www.055110.com/xs/5/24494.html, truy cập ngày 11/9/2025.
- Đỗ Ngọc Mai (2018), “Bất cập về miễn hình phạt trong BLHS 2015”, Tạp chí Kiểm sát, [https://kiemsat.vn/bat-cap-ve-mien-hinh-phat-trong-blhs-nam-2015-51125.html], truy cập ngày 14/09/2025.
- Nguyễn Thắng Cảnh, (2025), “Cần có chính sách khoan hồng đặc biệt cho những người tội phạm kinh tế đã được xét xử”, https://bom.so/Y9stGo , truy cập ngày 14/09/2025.
- Nguyễn Ngọc Lĩnh (2022), “Một số bất cập, vướng mắc trong áp dụng pháp luật về miễn hình phạt theo quy định tại Điều 59 BLHS 2015”, Tạp chí pháp lý, https://phaply.net.vn/mot-so-bat-cap-vuong-mac-trong-ap-dung-phap-luat-ve-mien-hinh-phat-theo-quy-dinh-tai-dieu-59-blhs-nam-2015-a245669.html, truy cập ngày 14/09/2025.
- Hà Viết Toàn (2021), “Quy định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và thực tiễn tại Tòa án”, Tạp chí Toà án, [https://tapchitoaan.vn/quy-dinh-hoan-tam-dinh-chi-chap-hanh-hinh-phat-tu-va-thuc-tien-tai-toa-an?] , truy cập ngày 14/09/2025.
- Nguyễn Xuân Tùng (2018), “Một số nét cơ bản về thi hành án dân sự, hành chính tại Trung Quốc”, [https://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/lists/thongtinthanuocngoai/view_detail.aspx?itemid=34], truy cập ngày 14/09/2025.
