THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 28 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0059.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Phân tích đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước và đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay 3 dac diem cua co quan hanh chinh nha nuoc va dua ra mot so giai phap nang cao hieu qua hoat dong 3](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/dac-diem-cua-co-quan-hanh-chinh-nha-nuoc-va-dua-ra-mot-so-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-3.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Đặt vấn đề | 1 |
| 2. Mục đích và phương pháp nghiên cứu | 2 |
| 3. Kết cấu đề tài | 3 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN | 4 |
| 1.1. Cơ sở lý luận | 4 |
| 1.1.1. Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài | 4 |
| 1.2. Quy định về Thẩm quyền xét xử riêng biệt của Tòa án Việt Nam | 8 |
| CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NHỮNG VẤN ĐỀ TRONG QUY ĐỊNH CỦA ĐIỀU 470 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015 | 10 |
| 2.1. Vấn đề thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam loại trừ thẩm quyền của Trọng tài | 10 |
| 2.1.1. Phán quyết của Trọng tài không được công nhận | 10 |
| 2.1.2. Phán quyết của Trọng tài có thể bị hủy | 11 |
| 2.2. Vấn đề về tranh chấp bất động sản tại điểm a khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 | 14 |
| 2.3. Vấn đề về rủi ro các phán quyết của Trọng tài VIAC không được công nhận hoặc bị hủy | 17 |
| CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI | 20 |
| 3.1. Bài học kinh nghiệm của Đức | 20 |
| 3.2. Bài học kinh nghiệm của Thụy Sĩ | 22 |
| 3.3. Công ước New York | 23 |
| CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ THẨM QUYỀN RIÊNG BIỆT CỦA TOÀ ÁN VIỆT NAM VỚI THẨM QUYỀN CỦA TRỌNG TÀI | 26 |
| 4.1. Loại bỏ sự chưa thống nhất trong cách sử dụng từ, thuật ngữ trong Luật Trọng tài thương mại và Bộ luật Tố tụng dân sự | 26 |
| 4.2. Sửa đổi khái niệm về “Trọng tài nước ngoài” | 26 |
| 4.3. Ban hành văn bản hướng dẫn việc áp dụng và giải thích các quy định liên quan đến việc công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài | 28 |
| 4.4. Bổ sung thêm các quy định về thẩm quyền của Trọng tài trong vụ án dân sự có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản | 29 |
| 4.5. Tăng cường sự phối hợp giữa Bộ Tư pháp, Tòa án Việt Nam với các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài | 30 |
| 4.6. Tăng cường sự hợp các quốc tế giữa Việt Nam đối nước các nước thực thi thẩm quyền riêng biệt của Tòa án đối với thẩm quyền của Trọng tài | 31 |
| 4.7. Tăng cường đầu tư nguồn lực về cơ sở vật chất và công nghệ cho các Tòa án và Trọng tài thương mại Việt Nam | 32 |
| KẾT LUẬN | 33 |
| LỜI CẢM ƠN | 35 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 36 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bộ máy nhà nước là một chỉnh thể thống nhất, được tạo thành bởi các cơ quan nhà nước gồm bốn hệ thống cơ quan chính: Cơ quan lập pháp, cơ quan hành chính, cơ quan tòa án và cơ quan kiểm sát. Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nước, được thành lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. Chủ thể quản lý hành chính nhà nước là các cá nhân hay tổ chức mang quyền lực hành chính nhà nước, nhân dân nhà nước và thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. Đồng thời, có thể khẳng định rằng chủ thể quản lý hành chính nhà nước quan trọng nhất chính là cơ quan hành chính. Cơ quan hành chính nhà nước mang đầy đủ đặc điểm của cơ quan nhà nước nói chung, tuy nhiên cơ quan hành chính nhà nước cũng có những đặc điểm riêng biệt giúp phân biệt với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi đất nước ta phải tiến hành cuộc cải cách hành chính, trong đó có nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước nhằm xây dựng một nền hành chính gọn nhẹ, chính quy, hiện đại có hiệu quả quản lý cao. Các cơ quan hành chính nhà nước cũng cần tận dụng được cơ hội, đồng thời hạn chế những thách thức trong bối cảnh toàn cầu hoá để có thể phát triển. Tuy vậy, hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta trong quá trình đổi mới vẫn còn tồn tại nhiều biểu hiện tiêu cực, chưa đáp ứng được những yêu cầu của cơ chế quản lý mới cũng nhu cầu của nhân dân trong điều kiện mới, hiệu lực, hiệu quả quản lý chưa cao.
Thấy được tính cấp thiết cũng như tầm quan trọng của vấn đề này, em quyết định chọn đề tài: “Phân tích đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước và đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay” để đi sâu nghiên cứu.
2. Mục đích và phương pháp nghiên cứu
– Mục đích nghiên cứu: Phân tích, làm rõ khái niệm và đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước, từ đó giúp nhận biết các cơ quan hành chính trong bộ máy nhà nước, đồng thời giúp xác định vai trò của cơ quan hành chính nhà nước với tư cách là chủ thể của pháp luật hành chính và là chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính; Đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay nhằm đóng góp ý kiến, góp phần xây dựng, đổi mới một bộ máy hành chính nhà nước năng động và hiệu quả, phù hợp với tiến trình hội nhập thế giới.
– Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, bài tiểu luận đã tổng hợp, thống nhất, đúc kết và mở rộng những kiến thức đã tích lũy trong suốt quá trình học tập, kết hợp giữa việc tổng hợp sách báo, tài liệu với việc đi sâu vào phân tích thực tiễn, tham khảo ý kiến, sử dụng các phương pháp thu thập số liệu thống kê, so sánh, phân tích, đánh giá, kết hợp với các phương pháp tư duy logic, phương pháp phân tích số liệu và phương pháp biện chứng nhằm tìm ra hướng đi hợp lý và hiệu quả nhất.
3. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung bài tiểu luận gồm 2 chương cụ thể như sau:
Chương 1. Khái niệm và đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước
Chương 2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1. Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước
Để hiểu được khái niệm cơ quan hành chính nhà nước, trước hết chúng ta cần tìm hiểu khái niệm cơ quan nhà nước. Cơ quan nhà nước là một tổ chức được thành lập và hoạt động theo những nguyên tắc và trình tự nhất định, có cơ cấu tổ chức nhất định và được giao những quyền lực nhà nước nhất định, được quy định trong các văn bản pháp luật để thực hiện một phần nhiệm vụ, quyền hạn của nhà nước[1]. Các cơ quan nhà nước có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành một thể thống nhất đó chính là bộ máy nhà nước. Nếu căn cứ vào trật tự hình thành cũng như tính chất, vị trí, chức năng của các cơ quan nhà nước thì bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay gồm có bốn hệ thống cơ quan, đó là: hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước, hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, hệ thống các cơ quan xét xử và hệ thống các cơ quan kiểm sát.
Trong đó, các cơ quan hành chính nhà nước bao gồm: Chính phủ, các bộ, các ủy ban nhà nước, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp và các sở, phòng ban thuộc ủy ban nhân dân.
Như vậy, cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, có phương diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành – điều hành, có cơ cấu tổ chức và phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định[2]. Cơ quan hành chính nhà nước hoạt động chấp hành và điều hành tức là thực hiện các quyết định của cơ quan quyền lực nhà nước; trực tiếp chỉ đạo, điều khiển các cơ quan, tổ chức, công dân và điều hành các hoạt động đó hàng ngày.
1.2. Đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước
Đặc điểm chung của cơ quan hành chính nhà nước với các cơ quan nhà nước
Cơ quan hành chính nhà nước là một loại cơ quan nhà nước, là một bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước. Do vậy, cơ quan hành chính nhà nước cũng mang đầy đủ các đặc điểm chung của các cơ quan nhà nước:
Thứ nhất, cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhân danh nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý với mục đích hướng tới lợi ích công. Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan nhà nước có quyền nhân danh nhà nước tức là được sử dụng quyền lực nhà nước, được sử dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước nhất định và được ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như nghị định, quyết định, chỉ thị, có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các chủ thể để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước với mục đích vì lợi ích tập thể, lợi ích công cộng.
Ví dụ: Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện X ký hợp đồng xây mới trụ sở Ủy ban Nhân dân với công ty xây dựng Y thì chủ tịch Ủy ban Nhân dân là người ký kết hợp đồng không phục vụ lợi ích cá nhân mà vì lợi ích tập thể, công cộng.
Thứ hai, cơ quan quản lý hành chính nhà nước được pháp luật quy định cụ thể về cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn. Nói cách khác, cơ quan hành chính nhà nước có tính độc lập tương đối về cơ cấu – tổ chức (có cơ cấu bộ máy và quan hệ công tác bên trong của cơ quan được quy định trước hết quy định trước hết nhiệm vụ, chức năng, thể hiện vai trò độc lập). Mỗi cơ quan hành chính nhà nước đều được một Luật nhất định quy định rất rõ ràng và chi tiết.
Chẳng hạn, Luật tổ chức Chính phủ năm 2001 quy định cụ thể về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ tại Điều 2 hay từ Điều 9 đến Điều 18 quy định chi tiết về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong từng lĩnh vực cụ thể như lĩnh vực kinh tế, khoa học, công nghệ và môi trường, văn hóa, giáo dục, thông tin, thể thao và du lịch,… Cơ cấu tổ chức của cơ quan hành chính nhà nước còn được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật khác như Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 2003, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015,…
Thứ ba, nguồn nhân sự chính và đông đảo của cơ quan hành chính nhà nước là đội ngũ cán bộ, công chức và viên chức. Đội ngũ cán bộ, công chức và viên chức được hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008.
Chẳng hạn, Điều 23 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định về việc bầu cử, bổ nhiệm chức vụ, chức danh cán bộ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội:
“Việc bầu cử, bổ nhiệm chức vụ, chức danh cán bộ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội được thực hiện theo quy định của điều lệ, pháp luật có liên quan.”
Việc Bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm chức vụ, chức danh cán bộ trong cơ quan nhà nước được quy định cụ thể trong Điều 24 Luật Cán bộ, công chức năm 2008:
Việc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm chức vụ, chức danh cán bộ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước từ trung ương đến cấp huyện được thực hiện theo quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật kiểm toán nhà nước, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.”
Khoản 1 Điều 37 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định về phương thức tuyển dụng công chức, đó là việc thông qua thi tuyển:
“Việc tuyển dụng công chức được thực hiện thông qua thi tuyển, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Hình thức, nội dung thi tuyển công chức phải phù hợp với ngành, nghề, bảo đảm lựa chọn được những người có phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng.”
Thứ tư, Các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và hoạt động dựa trên những quy định của pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ thẩm quyền riêng và…
[1] Giáo trình Luật hiến pháp Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội.
[2] Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)