
- Trường học: Đại học Luật Hà Nội
- Điểm số: 9.00 điểm
- Số trang: 24 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B1027 | Năm 2024
- Luật áp dụng: Bộ luật Hình sự 2015 (SĐ,BS 2017,2024,2025)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG TIỂU LUẬN
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

XEM TRƯỚC TRANG MỤC LỤC


MỤC LỤC TIỂU LUẬN CHI TIẾT
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI | 2 |
| 1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại | 2 |
| 1.2. Cơ sở của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân Việt Nam | 3 |
| 1.2.1. Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại | 3 |
| 1.2.2. Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại | 4 |
| (1) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; | 4 |
| (2) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; | 5 |
| (3) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; | 5 |
| (4) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của BLHS. | 5 |
| 2.3. Các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với pháp nhân thương mại | 6 |
| 2.3.1. Hình phạt | 6 |
| 2.3.2. Các biện pháp tư pháp chỉ áp dụng đối với đối với pháp nhân thương mại phạm tội | 8 |
| 2.3.3. Miễn hình phạt | 9 |
| 2.3.4. Xóa án tích | 10 |
| CHƯƠNG 2. TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI | 11 |
| 2.1. Theo pháp luật Anh | 11 |
| 2.2. Theo pháp luật Canada | 12 |
| 2.3. Theo pháp luật Hoa Kỳ | 13 |
| 2.4. Theo pháp luật Úc | 15 |
| 2.5. Theo pháp luật Trung Quốc | 16 |
| 2.6. Theo pháp luật Pháp | 16 |
| 2.7. Theo pháp luật Nhật Bản | 16 |
| CHƯƠNG 3. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC TRONG QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ | 19 |
| 3.1. Một số vướng mắc | 19 |
| 3.1.1. Vướng mắc trong quy định về điều kiện áp dụng | 19 |
| 3.1.2. Vướng mắc trong quy định về hình phạt áp dụng | 20 |
| 3.2. Một số kiến nghị | 21 |
| 3.2.1. Lỗi của pháp nhân thương mại trong thực hiện tội phạm | 21 |
| 3.2.2. Việc pháp nhân thương mại phạm tội không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân | 21 |
| 3.2.3. Cần làm rõ việc có hay không có hành vi phạm tội vượt quá của một người hay một nhóm người nhân danh pháp nhân thương mại phạm tội | 22 |
| KẾT LUẬN | 23 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 24 |
LỜI MỞ ĐẦU
Trước đây, về mặt khách quan, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội của con người; về mặt chủ quan là nhận thức, ý thức và yếu tố về lỗi của người phạm tội đối với hành vi mà bản thân gây ra. Chính vì vậy, pháp luật hình sự Việt Nam trước đây chỉ quy định truy tố trách nhiệm hình sự đối với cá nhân. Từ ngày 08/6/2012, Công ước của Liên Hợp Quốc về Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia bắt đầu có hiệu lực ở nước ta. Theo đó, nội dung Công ước yêu cầu tất cả các quốc gia là thành viên áp dụng những biện pháp cần thiết để xác định trách nhiệm pháp lý của pháp nhân trong việc tham gia vào các nhóm tội phạm nghiêm trọng, bao gồm hành vi tham gia vào nhóm tội phạm có tổ chức, rửa tiền, cản trở công lý. Vì vậy, việc quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại là cần thiết.
Cũng như trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, trong đó pháp nhân thương mại đóng vai trò không nhỏ trong việc đóng góp xây dựng nền kinh tế ở Việt Nam. Tuy nhiên, ngoài những lợi ích mang lại, ngày càng xảy ra nhiều hành vi vi phạm pháp luật mà chủ thể gây ra là pháp nhân thương mại gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, môi trường và sức khỏe cộng đồng. Ví dụ điển hình là vụ Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh-FHS có hành vi hủy hoại môi trường biển Việt Nam, bằng việc xả chất thải có chứa độc tố là nguyên nhân làm hải sản và sinh vật biển chết hàng loạt, nhất là ở tầng đáy hay vụ công ty VN Farma nhập khẩu thuốc H- Capita 500mg Caplet trị ung thư giả mạo, đe dọa đến tính mạng của người dân sử dụng thuốc.
Nhận thấy điều này, Bộ luật hình sự Việt Nam 2015 lần đầu tiên ghi nhận trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại nhằm khắc phục những bất cập trong thực tiễn xử lý vi phạm hiện nay. Do đó, học viên lựa chọn đề tài: “Những vấn đề liên quan đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam – Một số giải pháp hoàn thiện”.
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại
Trước đây, tại Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) chỉ quy định trách nhiệm hình sự đối với chủ thể là cá nhân người phạm tội. Nhận thấy đây không phải là vấn đề mới với các quốc gia trên thế giới, và để phù hợp với xu hướng chung của luật pháp quốc tế cũng như tình hình thực tế tại Việt Nam và các công ước mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Bộ luật Hình sự năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định bổ sung về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại. Trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp nhân là thuật ngữ được ghép bởi 2 yếu tố đó là TNHS (một loại trách nhiệm pháp lý) và pháp nhân.
Theo Điều 75 Bộ luật Dân sự 2015 có thể rút ra pháp nhân thương mại cụ thể bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.
Để trở thành một pháp nhân thương mại cần có các điều kiện sau đây:
- Được thành lập theo quy định của pháp luật;
- Có cơ cấu tổ chức rõ ràng: Có cơ quan điều hành (Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân) và cơ quan khác theo quyết định của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật;
- Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
- Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập;
- Tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.
Còn trong khoa học pháp lý, “trách nhiệm hình sự” được hiểu đó là hậu quả pháp lý mà các chủ thể phải gánh chịu khi không thực hiện, thực hiện không đúng những quy định của pháp luật, của Nhà nước đã đặt ra, luôn gắn liền với sự cưỡng chế nhà nước, chế tài của nhà nước.
Từ những phân tích trên, TNHS của pháp nhân thương mại được hiểu là hậu quả pháp lý bất lợi thông qua các biện pháp cưỡng chế hình sự mà pháp nhân phải gánh chịu khi pháp nhân thương mại thực hiện hành vi vi phạm pháp luật được quy định trong Bộ luật Hình sự.
1.2. Cơ sở của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân Việt Nam
Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Bộ luật Hình sự 2015 (BLHS) thì cơ sở trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại:
“Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 24 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với 99.000 VNĐ!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung.
- M. Delmas0-marty (1993). Droit, pénal d’affaires, Paris.
- New york Central & Hudson River Railroad Company v U.S. 212 U.S. 481 (1909).
- Ths. Lữ Vũ Lực, “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân ở một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam”, https://tapchicongthuong.vn/trach-nhiem-hinh-su-cua-phap-nhan-o-mot-so-nuoc-tren-the-gioi-va-kinh-nghiem-cho-viet-nam-131180.htm.
- Ths.NCS. Hoàng Chí Kiên, “Quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân tại một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam”, https://tapchitoaan.vn/quy-dinh-ve-trach-nhiem-hinh-su-cua-phap-nhan-tai-mot-so-quoc-gia-tren-the-gioi-va-kinh-nghiem-cho-viet-nam10659.html.
