THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 50 trang (Không bao gồm bìa, Mục lục)
- Năm: 2025 / Mã số: B1034.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2025] Phân tích các vấn đề lý luận về mục đích và nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội theo Luật Tư pháp người chưa thành niên (9.25 điểm) (MS-B1034) 4 phan tich cac van de ly luan ve muc dich va nguyen tac ap dung bien phap xu ly chuyen huong 4](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2026/01/phan-tich-cac-van-de-ly-luan-ve-muc-dich-va-nguyen-tac-ap-dung-bien-phap-xu-ly-chuyen-huong-4.png)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ TƯ PHÁP NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ XỬ LÝ CHUYỂN HƯỚNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN | 3 |
| 1.1. Khái niệm và đặc điểm của tư pháp người chưa thành niên | 3 |
| 1.1.1. Khái niệm tư pháp người chưa thành niên trên thế giới | 3 |
| 1.1.2. Khái niệm tư pháp người chưa thành niên tại Việt Nam | 5 |
| 1.1.3. Đặc điểm về tư pháp người chưa thành niên | 7 |
| Thứ nhất, có khung pháp lý riêng về xử lý người chưa thành niên | 7 |
| Thứ hai, có cơ quan và nhân sự chuyên trách đối với xử lý tư pháp người chưa thành niên | 8 |
| Thứ ba, hệ thống các dịch vụ hỗ trợ về pháp lý toàn diện cho người chưa thành niên | 9 |
| Thứ tư, phòng ngừa tội phạm người chưa thành niên | 9 |
| Thứ năm, xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội | 9 |
| Thứ sáu, Hệ thống các biện pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội được xây dựng trên nguyên tắc cân bằng giữa giám sát, quản lý và tạo điều kiện tự giáo dục, rèn luyện để tái hòa nhập cộng đồng | 10 |
| 1.2. Khái niệm, bản chất và đặc trưng của xử lý chuyển hướng | 11 |
| 1.2.1. Khái niệm xử lý chuyển hướng | 11 |
| 1.2.2. Bản chất của xử lý chuyển hướng | 12 |
| 1.2.3. Đặc trưng cơ bản của xử lý chuyển hướng | 13 |
| 1.3. Cơ sở lý thuyết của xử lý chuyển hướng trong tư pháp người chưa thành niên | 14 |
| 1.3.1. Lý thuyết tư pháp phục hồi (Restorative Justice) | 14 |
| 1.3.2. Lý thuyết phát triển tâm lý (Developmental Psychology) | 15 |
| 1.3.3. Lý thuyết gán nhãn (Labeling Theory) | 16 |
| 1.3.4. Mô hình đánh giá Rủi ro - Nhu cầu - Đáp ứng (Risk - Need - Responsivity Model) | 16 |
| 1.4. Sự cần thiết của xử lý chuyển hướng trong hệ thống tư pháp hiện đại | 17 |
| 1.4.1. Khắc phục những hạn chế của hệ thống tư pháp truyền thống | 17 |
| 1.4.2. Đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế | 18 |
| 1.4.3. Mang lại lợi ích cho nhiều bên liên quan | 18 |
| CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH MỤC ĐÍCH XỬ LÝ CHUYỂN HƯỚNG THEO ĐIỀU 34 LUẬT TƯ PHÁP NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN | 20 |
| 2.1. Mục đích xử lý kịp thời và hiệu quả đối với người chưa thành niên | 20 |
| 2.2. Mục đích giáo dục, cải tạo và phát triển nhân cách người chưa thành niên | 21 |
| 2.3. Mục đích hòa giải giữa người chưa thành niên và bị hại | 23 |
| 2.4. Mục đích nâng cao trách nhiệm của gia đình và cộng đồng | 25 |
| 2.5. Mục đích hạn chế tác động tiêu cực của thủ tục tố tụng hình sự | 27 |
| 2.6. Mục đích ngăn ngừa tái phạm và tái hòa nhập cộng đồng | 29 |
| 2.7. Đánh giá tính toàn diện và khoa học của các mục đích được quy định | 30 |
| CHƯƠNG 3. PHÂN TÍCH NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ CHUYỂN HƯỚNG THEO ĐIỀU 35 LUẬT TƯ PHÁP NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN | 32 |
| 3.1. Nguyên tắc cá thể hóa và đánh giá toàn diện | 32 |
| 3.1.1. Hành vi phạm tội phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội | 32 |
| 3.1.2. Người chưa thành niên phạm tội cần xem xét đến khả năng giáo dục, phục hồi | 33 |
| 3.1.3. Về yếu tố sự an toàn của bị hại và cộng đồng | 34 |
| 3.2. Nguyên tắc phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý người chưa thành niên | 35 |
| 3.3. Quy định về áp dụng đồng thời nhiều biện pháp xử lý chuyển hướng | 36 |
| 3.4. Giới hạn thời gian thực hiện nghĩa vụ khi áp dụng nhiều biện pháp | 38 |
| 3.5. Quy định không áp dụng đồng thời biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng | 38 |
| 3.6. Giới hạn độ tuổi áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng | 39 |
| 3.7. Đánh giá tính hợp lý và khoa học của các nguyên tắc được quy định | 41 |
| CHƯƠNG 4. SO SÁNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ MỤC ĐÍCH VÀ NGUYÊN TẮC XỬ LÝ CHUYỂN HƯỚNG CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ | 43 |
| 4.1. Tổng quan về các quy định quốc tế về xử lý chuyển hướng | 43 |
| 4.2. Những điểm tích cực và hạn chế của Luật Tư pháp người chưa thành niên so với các quy định quốc tế | 44 |
| 4.2.1. Nguyên tắc lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên | 44 |
| 4.2.2. Xử lý chuyển hướng theo tiêu chuẩn quốc tế | 45 |
| 4.2.3. Tránh giam giữ và cấm hình phạt khắc nghiệt | 45 |
| 4.2.4. Về quyền tham gia và được lắng nghe | 46 |
| 4.2.5. Tái hòa nhập và quyền được quên | 47 |
| KẾT LUẬN | 48 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 50 |
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |
LỜI MỞ ĐẦU
Quyền của trẻ em, thanh niên hay người chưa thành niên (NCTN) đã được hiến định tại Hiến pháp 1946, cho thấy từ lâu quy định pháp luật của Việt Nam vẫn mang nhiều tư tưởng tầm thời đại, nhiều giá trị trường tồn, mà đặc biệt là các quyền hiến định của NCTN vẫn luôn được kế thừa tại các Hiến pháp sau này[1]. Tư tưởng đó đã được kế thừa bởi Hiến pháp 2013 với các quyền được chăm sóc, giáo dục, quyền được bảo vệ khỏi các hành vi bị xâm hại được quy định tại Điều 37. Quy định trên là những nguyên tắc cơ bản nhất của quyền NCTN được đông đảo các quan điểm tiến bộ về tư pháp hình sự quốc tế công nhận, đó là bước đệm ban đầu cho các văn bản về cải cách tư pháp, đặc biệt là các vấn đề về TPNCTN sau này.
Trẻ em hay NCTN là trọng tâm chính trong định hướng cải cách tư pháp. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới với quan điểm chỉ đạo là “Lấy con người làm trung tâm, mục tiêu, chủ thể và động lực phát triển đất nước”[2]. Quan điểm này thể hiện việc cải cách tư pháp sẽ thực hiện, xoay theo trục chính là con người, NCTN với tư cách là thế hệ tương lai, là con người cụ thể của tương lai sau này nên việc thiết lập các chế định về TPNCTN là điều hết sức cần thiết. Ngoài ra, yêu cầu đặt ra là “nội luật hóa các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia”[3], Việt Nam đã từ lâu là thành viên của Công ước về quyền Trẻ em 1989 (Convention on the Rights of the Child – CRC), đã tham gia từ 20/02/1990, là quốc gia đầu tiên của Châu Á và quốc gia thứ hai trên thế phê chuẩn công ước[4], trong năm 2022 Ủy ban quyền Trẻ em của Liên hợp quốc (Committee on the Rights of the Child) đã khuyến nghị Việt Nam “xây dựng và thông qua một đạo luật toàn diện về TPNCTN, cung cấp khuôn khổ pháp lý cho hệ thống TPNCTN”[5]. Vấn đề này là một trong những yêu cầu cấp bách trong việc đảm bảo sự quyết liệt thực hiện các nội dung về cải cách TPNCTN. Quan điểm chỉ đạo và yêu cầu nội luật hóa là hai mặt chủ quan và khách quan, giữa ý chí bên trong và yêu cầu thực tiễn bên ngoài đã tạo động lực giúp cho các chế định về TPNCTN mà điển hình nhất là Luật TPNCTN ra đời.
Trong bối cảnh cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, việc xây dựng, “phát triển hệ thống tư pháp thân thiện và bảo vệ NCTN”[6] có tính nhân văn, tiến bộ và có hiệu quả đã trở thành một trong những ưu tiên quan trọng của tiến trình cải cách TPNCTN. Điều này được thể hiện rõ nét qua việc Quốc hội thông qua Luật TPNCTN năm 2024 (sẽ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2026), đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về quyền NCTN và TPNCTN.
So với Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, 2024, 2025 quy định tại Chương XII về những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, thì các BPXLCH (XLCH) của Luật TPNCTN 2024 được xem là một trong những biện pháp tiến bộ nhất, phản ánh xu hướng hiện đại trong TPNCTN trên thế giới. Điển hình là hai quy định tại Điều 34 – Mục đích XLCH và Điều 35 – Nguyên tắc áp dụng XLCH, được xem là điểm khởi đầu, định hướng cho toàn bộ hoạt động theo sau (mục đích XLCH) và vai trò là quy tắc, nền tảng để đạt được mục đích đó (nguyên tắc XLCH), hai nội dung này đã tạo nền tảng pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp thay thế cho xử lý hình sự truyền thống đối với NCTN phạm tội.
[1] Hoàng Minh Khôi (2013), “Cần hiến định quyền của người chưa thành niên trong Hiến pháp”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, (1 (237)), tr. 1.
[2] Khoản 3 Mục II, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
[3] Khoản 2 Mục IV, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
[4] Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, “Kỷ niệm 25 năm Việt Nam phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền người chưa thành niên”, Cổng thông tin Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, [https://molisa.gov.vn/baiviet/24042?tintucID=24042] (truy cập ngày 17/3/2025).
[5] Nguyễn Hòa Bình, “Những định hướng lớn trong xây dựng Luật TPNCTN ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, [https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/nhung-dinh-huong-lon- trong-xay-dung-luat-tu-phap-nguoi-chua-thanh-nien-o-viet-n-1] (truy cập ngày 17/3/2025).
[6] Khoản 4, Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 25/12/2023 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ NCTN đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
[… Vui lòng tải về để xem đầy đủ nội dung tài liệu này]
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |