THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 16 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0181.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2022] Phân tích nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 2 B0181 phan tich nguyen tac cung cap chung cu va chung minh trong ttds theo quy dinh cua blttds nam 2015 2](https://cdn.tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/B0181-phan-tich-nguyen-tac-cung-cap-chung-cu-va-chung-minh-trong-ttds-theo-quy-dinh-cua-blttds-nam-2015-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ NGUYÊN TẮC CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015 | 2 |
| 1.1. Khái niệm nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự | 2 |
| 1.2. Nội dung nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 | 3 |
| 1.2.1. Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh | 3 |
| 1.2.2. Trách nhiệm hỗ trợ của Tòa án đối với việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự | 6 |
| CHƯƠNG II: THỰC TIỄN ÁP DỤNG THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ | 9 |
| 3.1. Thực tiễn việc áp dụng nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh | 9 |
| 3.2. Một số kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự | 10 |
| KẾT LUẬN | 12 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 13 |
LỜI MỞ ĐẦU
Chứng cứ là cơ sở quan trọng của việc giải quyết một vụ việc dân sự, là nền tảng cơ bản để quyết định giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn. Vì vậy, trong tố tụng dân sự, chứng cứ giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Có thể thấy mọi hoạt động trong quá trình chứng minh đều xoay quanh chứng cứ. Khi giải quyết vụ việc dân sự, trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng, tòa án, viện kiểm sát cần xác minh những sự việc tình tiết có liên quan đến vụ việc đang được tiến hành xem xét. Tất cả các sự kiện và tình tiết của vụ việc phải phù hợp với hiện thực khách quan. Để làm được điều đó, cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa vào chứng cứ và hiệu quả của chứng cứ trong tố tụng dân sự.
Nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự là một trong những nguyên tắc cơ bản, đặc trưng của luật tố tụng, xuất phát từ bản chất của các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động là các quan hệ được xác lập trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện giữa các chủ thể tham gia giao dịch dân sự. Nguyên tắc này có vai trò to lớn trong việc giải quyết vụ việc dân sự được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật, bảo đảm được sự công bằng cho các đương sự, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa. Do vậy, nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh tố tụng dân sự ngày càng được coi trọng.
Với những lý do, em xin chọn đề tài: “Phân tích nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015” làm đề tài tiểu luận cá nhân. Qua đó, tìm hiểu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ NGUYÊN TẮC CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015
1.1. Khái niệm nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
Chứng cứ có thể là những tin tức, dấu vết liên quan đến các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự, được Tòa án sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự. Song để mọi người có thể nhận thức được thì chúng phải được ghi lại, phản ánh lại dưới những hình thức cụ thể như bản hợp đồng, bản di chúc, băng ghi âm, đĩa ghi hình… Từ điều này, trên thực tế thường có cách hiểu chứng cứ trong vụ việc dân sự là những phương tiện phản ánh lại chúng như bản hợp đồng, bản di chúc đó, băng ghi âm, ghi hình đó… Theo quy định tại Điều 93 BLTTDS 2015 thì “chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”.
Với quy định của Điều 6 BLTTDS 2015 thì đương sự đưa ra yêu cầu sẽ phải chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Yêu cầu ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả yêu cầu về sự công nhận là đúng, là có lý và cả yêu cầu công nhận là không đúng, không có lý hay nói cách khác yêu cầu ở đây chính là đề ra đối tượng chứng minh. Khi nguyên đơn đưa ra yêu cầu bằng cách khởi kiện thì họ có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, bị đơn đưa ra yêu cầu bác bỏ ý kiến của nguyên đơn thì họ có cũng có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho việc bác bỏ đó là có căn cứ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng phải đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn và hợp pháp. Tuy nhiên đối với những vụ án mà cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của người khác thì quyển và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc về các cơ quan tổ chức khởi kiện mà không thuộc về người được khởi kiện.
Đồng thời với nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thì đương sự sẽ phải chịu hậu quả pháp lý. Hậu quả pháp lý này là việc được Tòa án công nhận quyền và lợi ích hợp pháp khi đương sự thực hiện một cách đầy đủ và chính xác nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh. Ngược lại sẽ phải chịu hậu quả bất lợi khi không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc yêu cầu của người khác đối với mình.
Như vậy, nguyên tắc nghĩa cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS là nguyên tắc cơ bản của TTDS, theo đó đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vì lợi ích của người khác phải có nghĩa vụ thu thập cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và đúng pháp luật; Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do pháp luật quy định.
1.2. Nội dung nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
1.2.1. Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh
Một trong những nguyên tắc cơ bản và đặc trưng của tố tụng dân sự là đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh. Nghĩa là đương sự phải chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Nếu như trong BLTTDS 2004 quy định “Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp” thì đến BLTTDS 2015 có điểm khác biệt và tiến bộ hơn là xác định lại quyền và nghĩa vụ của đương sự, theo đó “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”.
Đương sự chính là người phát động và giới hạn hoạt động chứng minh. Pháp luật tố tụng dân sự đặt ra nghĩa vụ chứng minh cho đương sự là vì quan hệ dân sự là quan hệ riêng tư của các bên, do các bên tự quyết định, tự giải quyết là chủ yếu và chỉ khi các bên không tự giải quyết được thì họ cũng tự quyết định có yêu cầu nhà nước can thiệp, hỗ trợ hay khác. Mặt khác, các bên đương sự là những người hiểu rõ vụ việc của mình nhất, biết rõ tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc của mình có những gì và ở nơi nào. Do đó, khi các bên đã đưa việc tranh chấp của họ ra Tòa án thì Tòa án chỉ là trọng tài, giúp các bên giải quyết tranh chấp một cách khách quan và đúng pháp luật, chứ không làm thay, chứng minh thay cho đương sự.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 50.000 VNĐ (.docx)