
- Trường học: Đại học Luật Hà Nội
- Điểm số: 8.75 điểm
- Số trang: 17 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B1035 | Năm 2025
- Luật áp dụng: Bộ luật Hình sự 2015 (SĐ,BS 2017,2024,2025)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG TIỂU LUẬN
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

XEM TRƯỚC TRANG MỤC LỤC

MỤC LỤC TIỂU LUẬN CHI TIẾT
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI PHẠM TỘI | 2 |
| 1.1. Khái quát chung về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội theo Bộ luật hình sự năm 2015 | 2 |
| 1.1.1. Bản chất của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong sự đánh giá với quy định về khái niệm tội phạm | 3 |
| 1.1.2. Quy định về các tội danh pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự theo BLHS năm 2015 | 4 |
| 1.2. Cơ sở lý luận về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội | 5 |
| 1.2.1. Một số học thuyết về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội | 5 |
| CHƯƠNG 2. SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA VIỆT NAM VÀ SINGAPORE VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN – KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM | 9 |
| 2.1. Trách nhiệm hình sự của tổ chức theo quy định pháp luật ở Singapore | 9 |
| 2.2. Kinh nghiệm cho Việt Nam | 11 |
| 2.2.1. Về nguồn của luật hình sự, pháp luật Singapore quy định trách nhiệm hình sự trong BLHS và các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành | 12 |
| 2.2.2. Về chủ thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tại Điều 11 BLHS Singapore quy định chủ thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự ngoài cá nhân còn có tổ chức, bao gồm mọi loại hình công ty hoặc hiệp hội hoặc bất kì tổ chức nào mặc dù đã được thành lập hợp pháp hay chưa | 12 |
| 2.2.3. Về phạm bi truy cứu trách nhiệm hình sự pháp luật Singapore không giới hạn phạm vi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tổ chức | 13 |
| KẾT LUẬN | 15 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 17 |
LỜI MỞ ĐẦU
Trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp nhân là một trong những vấn đề pháp lý quan trọng và ngày càng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà làm luật và thực tiễn pháp lý trên thế giới. Trong khi nhiều quốc gia trên thế giới công nhận TNHS của pháp nhân, hay còn gọi là tổ chức, doanh nghiệp, riêng Việt Nam lại là một khái niệm tương đối mới mẻ và đang trong quá trình phát triển. Điều này đặc biệt rõ nét ở các quốc gia có nền pháp lý phát triển như Singapore, nơi đã xây dựng một hệ thống pháp luật chặt chẽ về TNHS của pháp nhân.
Việc so sánh quy định của Singapore về TNHS của pháp nhân với kinh nghiệm của Việt Nam là một vấn đề cấp bách và cần thiết trong bối cảnh Việt Nam đang hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế. Những quy định hiện hành của Việt Nam về vấn đề này còn nhiều hạn chế, chưa thực sự rõ ràng và đồng bộ, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng vào thực tế.
Chính vì vậy việc so sánh quy định của Singapore về TNHS của pháp nhân với thực tiễn pháp lý của Việt Nam là cần thiết từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và xử lý tội phạm là pháp nhân thương mại phạm tội. Do đó, học viên lựa chọn “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân – So sánh một số quy định của Singapore và kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu.
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI PHẠM TỘI
1.1. Khái quát chung về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội theo Bộ luật hình sự năm 2015
Theo tư duy truyền thống, chủ thể của TNHS là cá nhân – người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự coi là tội phạm. Tuy nhiên, hiện nay, theo pháp luật hình sự của một số quốc gia cũng như của Việt Nam, chủ thể của TNHS không chỉ dừng lại ở việc quy định đối với cá nhân (thể nhân) mà còn quy định đối với cả pháp nhân. TNHS của pháp nhân là khả năng và nghĩa vụ của một tổ chức (bao gồm công ty, doanh nghiệp, tổ chức chính trị, xã hội, hay bất kỳ tổ chức nào khác) phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội mà tổ chức đó thực hiện hoặc bị phát hiện có liên quan đến hành vi phạm tội, theo quy định của pháp luật hình sự. Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự của Việt Nam, BLHS năm 2015 đã quy định TNHS của pháp nhân thương mại (PNTM), đánh dấu bước phát triển mang tính đột phá trong tư duy lập pháp hình sự của nước ta.
Khái niệm này phản ánh sự thay đổi trong cách thức xử lý tội phạm, không chỉ cá nhân mà còn đối với các tổ chức, pháp nhân có hành vi vi phạm pháp luật. TNHS của pháp nhân có thể được xác lập trong các trường hợp tổ chức đó vi phạm các quy định pháp lý, gây thiệt hại cho xã hội, môi trường, kinh tế, hoặc có hành vi lừa đảo, tham nhũng, gian lận thương mại và nhiều hành vi khác. Như vậy, TNHS của PNTM là một dạng trách nhiệm pháp lý. Đây là hậu quả pháp lý bất lợi mà PNTM phải gánh chịu trước Nhà nước, xuất phát từ hành vi gây nguy hiểm cho xã hội mà những hành vi này được quy định là tội phạm trong pháp luật hình sự.
TNHS của pháp nhân cũng phản ánh sự chuyển biến trong hệ thống pháp lý, nơi không chỉ có cá nhân phải chịu trách nhiệm, mà tổ chức cũng phải có nghĩa vụ đối với cộng đồng và xã hội.
1.1.1. Bản chất của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong sự đánh giá với quy định về khái niệm tội phạm
Quy định TNHS của pháp nhân về bản chất được hiểu là việc bổ sung các quy định về chủ thể thứ hai phải chịu TNHS, bên cạnh việc quy định TNHS của chủ thể thứ nhất là cá nhân, về cùng một hành vi phạm tội do cá nhân này thực hiện.
“Quy định TNHS của pháp nhân không có nghĩa là quy định loại tội phạm thứ hai – tội phạm có chủ thể thực hiện là pháp nhân bên cạnh tội phạm đã được quy định – tội phạm có chủ thể thực hiện là cá nhân”1GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (2019), Trách nhiệm hình sự của pháp nhân – Bản chất, điều kiện, phạm vi và kỹ thuật lập pháp, Chuyên đề trong công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Lập pháp hình sự về trách nhiệm của pháp nhân dưới góc độ so sánh luật” do GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa chủ nhiệm, tr. 2.. Điều này có thể hiểu là việc quy định TNHS của pháp nhân không làm phát sinh loại tội phạm thứ hai do pháp nhân thực hiện, mà chỉ có duy nhất một chủ thể của tội phạm – đó là cá nhân phạm tội và hai chủ thể của TNHS – đó là cá nhân và pháp nhân phạm tội. Vì tội phạm do cá nhân thực hiện và cá nhân này thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân, dưới sự chỉ đạo điều hành của pháp nhân, do đó, pháp nhân phải chịu TNHS về hành vi do cá nhân đã thực hiện. Bản chất của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân chỉ là việc bổ sung chủ thể thứ hai phải chịu trách nhiệm hình sự bên cạnh chủ thể là cá nhân về cùng một hành vi phạm tội do cá nhân thực hiện.
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 17 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với 69.000 VNĐ!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
- Bộ luật hình sự Singapore
- TS. Nguyễn Ngọc Hòa (2019), Trách nhiệm hình sự của pháp nhân – Bản chất, điều kiện, phạm vi và kỹ thuật lập pháp, Chuyên đề trong công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Lập pháp hình sự về trách nhiệm của pháp nhân dưới góc độ so sánh luật” do GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa chủ nhiệm, tr.2.
- Trịnh Quốc Toản (2003), “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự nước Anh”, Tạp chí khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, Kinh tế – Luật, T XVIII, (3), tr. 21. 5
- Hoàng Thị Tuệ Phương (2006), Trách nhiệm hình sự của pháp nhân, Luận văn thạc sỹ luật học, Tp. Hồ Chí Minh, tr. 33.
- Trần Văn Độ (2011), Chuyên đề 1 “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định trách nhiệm hình sự đối với tổ chức, pháp nhân trong luật hình sự Việt Nam”, trong Cao Thị Oanh (chủ nhiệm), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: Nghiên cứu so sánh cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân, Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp, tr. 118.
- Trường Đại học Luật Hà Nội, GS.TS. Nguyễn Ngọc Hoà (chủ biên) (2019), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần chung, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 294.
- Đỗ Nhật Ánh – Bàn về quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong Bộ luật hình sự năm 2015.
- Phạm Minh Tuyên (2019), “Một số vấn đề về trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội theo BLHS năm 2015”, Tòa án nhân dân, (11), tr.18.
CHÚ THÍCH
- 1GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (2019), Trách nhiệm hình sự của pháp nhân – Bản chất, điều kiện, phạm vi và kỹ thuật lập pháp, Chuyên đề trong công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Lập pháp hình sự về trách nhiệm của pháp nhân dưới góc độ so sánh luật” do GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa chủ nhiệm, tr. 2.
