
- Trường học: Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
- Điểm số: 9.00 điểm
- Số trang: 15 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B0922 | Năm 2025
- Luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (SĐ,BS 2021,2024,2025)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG TIỂU LUẬN
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

XEM TRƯỚC TRANG MỤC LỤC

MỤC LỤC TIỂU LUẬN CHI TIẾT
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| PHẦN 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIAM THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM | 2 |
| 1.1. Khái niệm và đối tượng áp dụng, các biện pháp thay thế biện pháp tạm giam | 2 |
| 1.2. Thời hạn biện pháp tạm giam | 3 |
| 1.3. Thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam | 4 |
| 1.4. Hủy bỏ biện pháp tạm giam | 5 |
| PHẦN 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIAM | 6 |
| PHẦN 3. ĐÁNH GIÁ, VƯỚNG MẮC VỀ VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIAM | 8 |
| PHẦN 4. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIAM | 12 |
| KẾT LUẬN | 14 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 15 |
LỜI MỞ ĐẦU
Biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự có chức năng hết sức quan trọng nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn bị can, bị cáo cản trở, gây khó khăn cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc để bảo đảm thi hành án, góp phần bảo vệ lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân do vậy sẽ được các nhà áp dụng nghiên cứu một cách kỹ lưỡng1TS. Võ Thị Kim Oanh, “Slide bài giảng Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự”.. Hiện này theo quy định của pháp luật hiện hành, biện pháp cưỡng chế được quy định lần lượt từ Điều 109 đến Điều 130 tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sau đây gọi tắt là BLTTHS năm 2015). Tuy nhiên, để nghiên cứu tất cả các biện pháp cưỡng chế sẽ là một đề tài khá dài đối với bài tiểu luận của nhóm. Nhóm mong muốn sẽ dành phần lớn nội dung để tập trung nghiên cứu chuyên sâu về biện pháp tạm giam (sau đây gọi là BPTG). Sở dĩ nhóm chọn BPTG làm đề tài tiểu luận là bởi vì đây là biện pháp nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp ngăn chặn, người bị tạm giam sẽ bị cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định, bị hạn chế một số quyền con người, quyền công dân như quyền tự do thân thể, cư trú, đi lại; mặt khác trong quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng còn nhiều bất cấp. Về quy định có thể kể ra một điểm bất cấp như sau: Chưa quy định cụ thể trường hợp nào thì được phép áp dụng. Về thực tiễn áp dụng, một số bất cấp có thể kể như sau: Nhiều điểm không rõ ràng trong luật về vấn đề thời hạn tạm giam, gây ra nhiều khó khăn cho quá trình áp dụng của Tòa án trên thực tiễn. Mặc dù, BLTTHS năm 2015 đã có sửa đổi, bổ sung song vẫn chưa đủ để làm hoàn thiện hơn nữa quy định này.
Sau đây, thông qua quá trình học tập, nghiên cứu và trao đổi. Nhóm xin trình bày những nội dung liên quan đến “Biện pháp tạm giam” qua đó chỉ ra những hạn chế, bất cập và đánh giá, đề xuất một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật. Kính mong Cô đánh giá và góp ý.
PHẦN 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẢO LĨNH
Khoản 1 Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), quy định: “Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh”.
Từ quy định trên có thể đưa ra một khái niệm cơ bản như sau: Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn (BPNC) do những người có thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, cho phép cá nhân hoặc tổ chức làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử đồng thời bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng.
Căn cứ vào khái niệm nêu trên có thể chỉ ra một số đặc điểm của BPNC bảo lĩnh như sau:
- Một là, BPNC bảo lĩnh được áp dụng để thay thế cho BPNC tạm giam. Trong trường hợp xét thấy việc áp dụng BPNC tạm giam đối với bị can, bị cáo là không cần thiết và có đủ căn cứ, điều kiện theo quy định của pháp luật để bảo đảm bị can, bị cáo không tiếp tục phạm tội hoặc cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng BPNC bảo lĩnh đối với họ.
- Hai là, tính chất của BPNC bảo lĩnh ít nghiêm khắc hơn so với biện pháp tạm giữ hay tạm giam. Bởi đối với một số loại tội phạm với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi là ít nghiêm trọng hoặc phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng và có cá nhân hoặc tổ chức đứng ra nhận bảo lĩnh… thì được áp dụng BPNC bảo lĩnh. Theo đó, bị can, bị cáo sẽ không bị tách ra khỏi cộng đồng, không bị hạn chế các quyền công dân khác như người bị tạm giữ, tạm giam. Điều này đã thể hiện được chính sách nhân đạo của Nhà nước ta. Bên cạnh đó, ưu điểm của việc áp dụng BPNC này là tránh được tình trạng quá tải trong các nhà tạm giữ, trại tạm giam, giúp tiết kiệm cho ngân sách Nhà nước.
- Ba là, đối tượng bị áp dụng BPNC bảo lĩnh chỉ có thể là bị can, bị cáo. Không phải tất cả các bị can, bị cáo thuộc đối tượng bị tạm giam đều có thể được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh mà chỉ bị can, bị cáo thuộc đối tượng bị tạm giam và có đủ các căn cứ, điều kiện áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 109 và khoản 1 Điều 121 BLTTHS năm 2015 thì mới có thể được áp dụng BPNC bảo lĩnh. Thực tiễn cho thấy, bị can, bị cáo được áp dụng BPNC này phải là phạm tội lần đầu, tính chất ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, thái độ khai báo thành khẩn… đồng thời có cá nhân hoặc tổ chức đứng ra nhận bảo lĩnh.
- Bốn là, BPNC bảo lĩnh chỉ được áp dụng khi có đủ căn cứ và điều kiện do pháp luật quy định. Theo đó, căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn được quy định tại khoản 1 Điều 121 BLTTHS năm 2015. Ngoài ra, các cơ quan THTT cần phải dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo để xem xét việc áp dụng biện pháp ngăn chặn này.
- Năm là, chủ thể có thẩm quyền áp dụng BPNC bảo lĩnh là những người có thẩm quyền của các cơ quan THTT (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án), khi xét thấy các căn cứ và điều kiện để áp dụng BPNC bảo lĩnh đã đáp ứng theo yêu cầu của pháp luật thì chủ thể có thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPNC bảo lĩnh, đề nghị cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh làm giấy cam đoan về nghĩa vụ bảo lĩnh của mình. Sáu là, mục đích của BPNC bảo lĩnh là nhằm bảo đảm không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử đồng thời bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của cơ quan THTT. BPNC bảo lĩnh tạo điều kiện để bị can, bị cáo không bị cách ly khỏi cộng đồng, xã hội cùng với đó là nhận được sự giúp đỡ, giám sát, giáo dục từ phía gia đình, không bị hạn chế các quyền tự do, miễn sao việc thực hiện các quyền đó không gây cản trở cho quá trình giải quyết vụ án hình sự.
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 15 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với 59.000 VNĐ!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025.
- Đỗ Văn Duy, Bàn về bảo lĩnh – Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, đường dẫn: https://tapchitoaan.vn/ban-ve-bao-linh-bien-phap-ngan-chan-trong-to-tung-hinh-su, truy cập ngày 01-10-2025;
- Nguyễn Thành Giang, Chánh án có quyền áp dụng biện pháp bảo lĩnh, đặt tiền… không?, đường dẫn: https://kiemsat.vn/chanh-an-co-quyen-ap-dung-bien-phap-bao-linh-dat-tien-khong-50394.html, truy cập ngày 01-10-2025);
- Nguyễn Thị Thu Hằng, Chế định bảo lĩnh trong tố tụng hình sự và hướng hoàn thiện, đường dẫn: https://lsvn.vn/che-dinh-bao-linh-trong-to-tung-hinh-su-va-huong-hoan-thien1623282305-a104992.html, truy cập ngày 01-10-2025.
CHÚ THÍCH
- 1TS. Võ Thị Kim Oanh, “Slide bài giảng Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự”.
