- Điểm số: 8.75 điểm
- Định dạng file: WORD
- Mã số tài liệu: B0175
THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 19 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0175.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIAM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ | 2 |
| 1.1. Khái quát chung về tạm giam và căn cứ áp dụng, thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 | 2 |
| 1.1.1. Khái niệm, mục đích và hậu quả pháp lý của việc áp dụng biện pháp tạm giam | 2 |
| 1.1.2. Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam | 2 |
| 1.1.3. Thủ tục áp dụng biện pháp tạm giam | 3 |
| 1.2. Các quan hệ tố tụng hình sự liên quan đến việc áp dụng biện pháp tạm giam. | 4 |
| 1.2.1. Quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát | 4 |
| 1.2.2. Quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Trại tạm giam | 4 |
| 1.2.3. Quan hệ giữa cơ quan điều tra và người bị tạm giam. | 5 |
| CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIAM | 6 |
| 2.1. Đối tượng áp dụng | 6 |
| 2.2. Thẩm quyền áp dụng lệnh tạm giam | 7 |
| 2.3. Thời hạn tạm giam | 8 |
| 2.3.1. Thời hạn tạm giam để điều tra | 8 |
| 2.3.2. Thời hạn tạm giam trong giai đoạn truy tố | 9 |
| 2.3.3. Thời hạn tạm giam trong giai đoạn xét xử | 10 |
| 2.4. Căn cứ để huỷ bỏ biện pháp tạm giam. | 11 |
| CHƯƠNG III: THỰC TIỄN VÀ MỘT SỐ KHÓ KHĂN VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN KHI ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIAM VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT | 12 |
| 3.1. Những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng | 12 |
| 3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật | 13 |
| KẾT LUẬN | 15 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 16 |
LỜI MỞ ĐẦU
Tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn có tính nghiêm khắc nhất trong các biện pháp ngăn chặn của luật tố tụng hình sự. Người bị áp dụng biện pháp tạm giam bị cách ly với xã hội trong một thời gian nhất định, bị hạn chế một số quyền của công dân. Việc áp dụng biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự là vô cùng cần thiết nhằm ngăn chặn không cho bị can, bị cáo tiếp tục có điều kiện phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án cũng như để thực hiện tốt chức năng tố tụng của cơ quan áp dụng. Trên lý thuyết là như vậy, tuy nhiên ngoài thực tiễn vẫn còn nhiều khó khăn, bộc lộ những bất cập trong quy định của pháp luật cũng như những vi phạm pháp luật trên thực tế. Để làm rõ vấn đề trên, em xin chọn đề tài số 16: “Phân tích quy định về việc áp dụng biện pháp tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hãy nêu một số khó khăn, vướng mắt trong thực tiễn và hướng giải quyết”.
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIAM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái quát chung về tạm giam và căn cứ áp dụng, thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
1.1.1. Khái niệm, mục đích và hậu quả pháp lý của việc áp dụng biện pháp tạm giam
– Tạm giam là biện pháp ngăn chặn do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng, hạn chế tự do thân thể trong một thời hạn nhất định đối với bị can, bị cáo khi có căn cứ Bộ luật tố tụng hình sự quy định nhằm ngăn chặn việc bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội hoặc để đảm bảo thi hành án[1].
– Việc thực hiện các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự nhằm các mục đích sau:
– Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội;
– Bảo đảm thi hành án.
– Hậu quả pháp lý: Tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn có tính chất nghiêm khắc nhất trong các biện pháp ngăn chặn của Tố tụng hình sự. Người bị áp dụng biện pháp tạm giam bị cách ly với xã hội trong một thời gian nhất định, bị hạn chế một số quyền công dân.
Ví dụ: Người bị tạm giam bị hạn chế đi lại, giao dịch, tiếp xúc, thông tin, liên lạc, tuyên truyền tín ngưỡng, tôn giáo. Trường hợp cần thiết thực hiện giao dịch dân sự thì phải thông qua người đại diện hợp pháp và được sự đồng ý của cơ quan đang thụ lý vụ án[2].
1.1.2. Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam
Về cơ bản, căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam giống với căn cứ áp dụng biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam.
Tuy nhiên, ngoài những căn cứ giống với căn cứ áp dụng biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam còn có thể được áp dụng đối với các trường hợp sau đây:
– Bị can, bị cáo phạm tội về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù từ 02 năm trở lên nếu họ bỏ trốn và bị bắt theo quy định truy nã;
– Bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng nhưng họ bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.
1.1.3. Thủ tục áp dụng biện pháp tạm giam
Biện pháp tạm giam khi được áp dụng sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến các quyền công dân của người bị tạm giam, do đó biện pháp này phải tuân theo những thủ tục nhất định.
Thứ nhất, việc tạm giam phải có lệnh, quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Lệnh, quyết định tạm giam phải ghi rõ số, ngày, tháng, năm địa điểm ban hành lệnh, quyết định; họ tên, chức vụ, chữ kí của người ban hành lệnh, quyết định và đóng dấu họ tên, địa chỉ của người bị tạm giam, lý do tạm giam, thời hạn tạm giao.
Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được Lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ tài liệu kèm theo liên quan đến việc tạm giam, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn và phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn.
Thứ hai, sau khi gia lệnh tạm giam, cơ quan ra lệnh tạm giam phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam nhằm xác định đúng đối tượng cần tạm giam, tránh trường hợp nhầm lẫn.
Thứ ba, sau khi ra lệnh tạm giam, cơ quan đã ra lệnh tạm giam cần phải thông báo cho gia đình người bị tạm giam và cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam cư trú hoặc làm việc biết để gia đình họ cũng như các cơ quan tổ chức biết được sự việc, không phải tiến hành những thủ tục tìm kiếm không cần thiết, đồng thời để chính quyền địa phương thực hiện tốt chức năng phối hợp.
1.2. Các quan hệ tố tụng hình sự liên quan đến việc áp dụng biện pháp tạm giam
Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc áp dụng biện pháp tạm giam là mối quan hệ phối hợp và chết ước.
Để Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thi hành đúng và thống nhất quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Cụ thể Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT hướng dẫn về việc phê chuẩn lệnh tạm giam; cách ghi thời hạn tạm giam; trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các quyết định của VKS; …
Cụ thể, Căn cứ khoản 1 Điều 83 của BLTTHS, trong thời hạn 24 giờ kể từ khi đã dẫn giải người bị bắt về đến trụ sở, Cơ quan điều tra thụ lý vụ việc phải lấy lời khai ngay và có quyền ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt, không phải chờ Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp. Do đó, trường hợp Cơ quan điều tra trả tự do cho người bị bắt thì thông báo ngay cho Viện kiểm sát để không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp; trường hợp Cơ quan điều tra đã ra quyết định tạm giữ nhưng không có căn cứ để phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp thì Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan điều tra ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ và trả tự do ngay cho người bị tạm giữ[3]…
[1] Giáo trình luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Trang 221.
[2] Khoản 2 Điều 19 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015.
[3] Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT -VKSTC-BCA-BQP VỀ QUAN HỆ PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VÀ VIỆN KIỂM SÁT TRONG VIỆC THỰC HIỆN MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/phan-tich-quy-dinh-ve-viec-ap-dung-bien-phap-tam-giam/
[xyz-ihs snippet=”B0175″]
