
- Trường học: Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
- Điểm số: 9.50 điểm
- Số trang: 26 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B0918 | Năm 2025
- Luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (SĐ,BS 2021,2024,2025)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG TIỂU LUẬN
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

XEM TRƯỚC TRANG MỤC LỤC


MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| PHẦN 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƯỜI | 2 |
| 1.1. Khái niệm | 2 |
| 1.2. Các trường hợp bắt người | 2 |
| 1.2.1. Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp | 2 |
| 1.2.2. Bắt người phạm tội quả tang | 3 |
| 1.2.3. Bắt người đang bị truy nã (Đ.112 BLTTHS) | 4 |
| 1.2.4. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Đ.113 BLTTHS) | 5 |
| 1.2.5. Bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ | 7 |
| PHẦN 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP | 8 |
| 2.1. Thực tiễn tình trạng bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hiện nay | 8 |
| 2.2. Thực tiễn tình trạng bắt người phạm tội quả tang hiện nay | 8 |
| 2.3. Thực tiễn áp dụng biện pháp bắt người đang bị truy nã hiện nay | 9 |
| 2.4. Thực tiễn áp dụng biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam | 10 |
| 2.5. Thực tiễn áp dụng biện pháp bắt người bị yêu cầu dẫn độ | 11 |
| PHẦN 3. ĐÁNH GIÁ BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI | 12 |
| 3.1. Ưu điểm của các biện pháp bắt người | 12 |
| 3.1.1. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 110 BLTTHS năm 2015) | 12 |
| 3.1.2. Bắt người phạm tội quả tang và Bắt người đang bị truy nã (Điều 111, Điều 112 BLTTHS năm 2015) | 13 |
| 3.1.3. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Điều 113 BLTTHS năm 2015) | 13 |
| 3.1.4. Bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ (Điều 503 BLTTHS năm 2015) | 14 |
| 3.2. Nhược điểm của các biện pháp bắt người | 14 |
| 3.2.1. Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp | 14 |
| 3.2.2. Biện pháp bắt người phạm tội quả tang và bắt người đang bị truy nã | 18 |
| 3.2.3. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam | 18 |
| PHẦN 4. ĐỀ XUẤT SỬA ĐỔI BỔ SUNG | 21 |
| 4.1. Đối với “Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp” | 21 |
| 4.2. Đối với “Bắt người phạm tội quả tang và bắt người đang bị truy nã” | 23 |
| 4.3. Đối với “Bắt bị can, bị cáo để tạm giam” | 23 |
| 4.4. Đối với “Bắt người bị yêu cầu dẫn độ” | 23 |
| KẾT LUẬN | 25 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 26 |
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, cải cách tư pháp đang được Đảng và Nhà nước ta coi là yếu tố quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phần đạt mục tiêu xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong Nghị quyết 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đã nêu nhiều vấn đề cụ thể trong Tố tụng hình sự. Các vấn đề này cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện để thể chế hóa vào quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tạo cơ sở pháp lý, nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự. Trong đó, có các yêu cầu được đặt ra đối với biện pháp cưỡng chế Tố tụng hình sự.
Biện pháp cưỡng chế Tố tụng hình sự là cách thức thực hiện tính quyền lực nhà nước do cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng theo trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định, tác động lên tư tưởng, hành vi người tham gia tố tụng, buộc họ phải thực hiện nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn bị can, bị cáo cản trở, gây khó khăn cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc để bảo đảm thi hành án, góp phần bảo vệ lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Biện pháp cưỡng chế được xây dựng dựa trên cơ sở quy định của Hiến Pháp, các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, các nguyên tắc trong Bộ luật tố tụng hình sự và đặc biệt phải đảm bảo quyền con người, quyền công dân.
Biện pháp “bắt người” là một trong các biện pháp ngăn chặn được áp dụng rất phổ biến trong thực tiễn và đã phát huy được vai trò to lớn trong việc giải quyết vụ án hình sự. Việc áp dụng biện pháp bắt người đúng đắn, kịp thời là sự bảo đảm rất quan trọng cho việc ngăn chặn tội phạm, phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý công minh mọi hành vi phạm tội, không làm oan người vô tội cũng như không để lọt tội phạm. Tuy nhiên, “bắt người” luôn là vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị – xã hội, bắt người đúng hay không đúng quy định của pháp luật, bắt oan sai sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân, liên quan đến đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước… Do đó, việc hoàn thiện quy định về biện pháp bắt người trong Tố tụng hình sự là vấn đề cấp thiết trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay.
PHẦN 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƯỜI
1.1. Khái niệm
Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong Tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã và trong trường hợp phạm tội quả tang thì áp dụng đối với người chưa bị khởi tố về hình sự, nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án hình sự.
1.2. Các trường hợp bắt người
Hiện nay, biện pháp bắt người gồm 05 trường hợp
1.2.1. Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
Đây là biện pháp được thực hiện tiếp theo sau khi biện pháp “giữ người trong trường hợp khẩn cấp”được thực hiện.
Tại K4 Điều 110 BLTTHS năm 2015 quy định như sau: Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan điều tra phải tiến hành lấy lời khai và phải ra một trong ba quyết định sau: Quyết định tạm giữ, quyết định bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc trả tự do cho người đó. Nếu xét thấy không có dấu hiệu của tội phạm, thì cơ quan điều tra phải “trả tự do” ngay cho người bị giữ. Đối với “quyết định bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp” thì được thực hiện theo K6 Điều 110 BLTTHS năm 2015 như sau:
Sau khi Viện kiểm sát nhận hồ sơ xin phê chuẩn từ Cơ quan điều tra thì trong vòng 12 giờ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Nếu có quyết định không phê chuẩn thì Cơ quan điều tra phải trả tự do ngay cho người bị giữ.
Tại K1Điều 114 BLTTHS năm 2015 quy định như sau: “Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người hoặc nhận người bị giữ, bị bắt, cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 12.00 phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt”. Và“quyết định tạm giữ” thì không cần có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát.
1.2.2. Bắt người phạm tội quả tang
Theo Điều 111 BLTTHS năm 2015: “Bắt người phạm tội quả tang là việc bắt người khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt.”
Từ định nghĩa nêu trên, bắt người phạm tội quả tang có 03 trường hợp bắt:…
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 26 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với 99.000 VNĐ!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Nguyễn Hòa Bình (2016), Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Nhà xuất bản chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội.
- Trần Ngọc Đức (2020), Luận giải một số quy định pháp luật về bắt người trong tố tụng hình sự Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
- Đào Minh Dũng (2016), “Biện pháp ngăn chặn bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự việt nan trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hải Dương”, Luận văn Thạc sĩ Luật học.
