
- Trường học: Đại học Luật Hà Nội
- Điểm số: 8.75 điểm
- Số trang: 54 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B0987 | Năm 2025
- Luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (SĐ,BS 2021,2024,2025)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG TIỂU LUẬN
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

XEM TRƯỚC TRANG MỤC LỤC

MỤC LỤC TIỂU LUẬN CHI TIẾT
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI | 3 |
| 1.1. Khái niệm và đặc điểm về quyền con người | 3 |
| 1.2. Quyền con người trong pháp luật tố tụng hình sự tại Việt Nam | 6 |
| CHƯƠNG 2. MINH CHỨNG VÀ ĐÁNH GIÁ NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG PHẦN CHUNG CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI | 9 |
| 2.1. Phạm vi điều chỉnh, nhiệm vụ, hiệu lực | 9 |
| 2.2. Những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình sự | 10 |
| 2.3. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng | 20 |
| 2.4. Người tham gia tố tụng | 22 |
| 2.5. Chứng minh và chứng cứ | 29 |
| 2.6. Biện pháp ngăn chặn | 34 |
| 2.7. Hồ sơ vụ án, văn bản tố tụng, thời hạn và chi phí tố tụng | 47 |
| KẾT LUẬN | 50 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 54 |
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, vấn đề về quyền con người đang là xu hướng được quan tâm hàng đầu tại mỗi quốc gia cũng như và vấn đề chung của cộng đồng quốc tế. Thực tế, điều này đã được Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, một trong những định hướng mà Đảng ta xác định là: Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân. Tiếp tục thực hiện định hướng đó, quyền con người, quyền công dân được ghi nhận tại Chương 2 của Hiến pháp năm 2013 đã phản ánh xu thế hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả và tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng phát triển ở hiện tại, Nghị quyết số 27-NQ/TW một lần nữa nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Theo đó, trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, vấn đề quyền con người và bảo đảm quyền con người trong thực tiễn được xác định là vấn đề cơ bản. Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân là tư tưởng xuyên suốt trong Hiến pháp năm 2013.
Cụ thể tại Điều 14 quy định về quyền con người, quyền công dân:
“Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.
Bài viết nghiên cứu những nội dung mới của BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm 2003, về các quy định đã sửa đổi, bổ sung theo hướng đảm bảo sâu sắc quyền con người trong tố tụng hình sự. BLTTHS năm 2015 đã thể chế hóa chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh, chính xác, kịp thời, chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội, đồng thời tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
1.1. Khái niệm và đặc điểm về quyền con người
Bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ghi nhận các quyền thiêng liêng của con người. Tiếp đó là các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 không chỉ thừa nhận và bảo đảm đầy đủ các quyền con người, quyền công dân phù hợp với luật pháp quốc tế mà còn khẳng định rõ: “Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, có trách nhiệm bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân”. Đặc biệt khái niệm quyền con người lần đầu tiên được được đưa vào Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) trong một chế định cụ thể. Tuy vậy, hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về quyền con người.
Có rất nhiều định nghĩa về quyền con người (nhân quyền), mỗi định nghĩa là một sự biểu hiện khác nhau ở góc độ nhìn nhận về vấn đề nhân quyền. Tuy nhiên, tổng hợp lại có thể chia thành ba nhóm quan niệm chủ yếu về quyền con người như sau:
Quan điểm thứ nhất: Bắt nguồn từ chỗ coi con người là một thực thể tự nhiên, nên quyền con người phải là quyền “bẩm sinh”, là “đặc quyền”, nghĩa là quyền con người, quyền lợi của con người với tư cách là người, gắn liền với cá nhân con người, không thể tách rời.
Quan điểm này được các đại biểu tư tưởng của giai cấp tư sản ở thế kỷ XVII, XVIII như Crotius, Hobbes, Kant, Locke, Spinoza, Rousseau hoàn thiện và nêu ra trong học thuyết về pháp luật tự nhiên. Trường phái này cho rằng, quyền tự nhiên, pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật nhà nước. Xuất phát từ quan điểm này, Jacques Mourgon (Giáo sư Đại học Khoa học xã hội Toulouse) đưa ra định nghĩa: “Quyền con người là những đặc quyền được các quy tắc điều khiển mà con người giữ riêng lấy trong các quan hệ của mình với các cá nhân và với chính quyền”[1]. Định nghĩa này chủ yếu đề cập đến quyền con người ở khía cạnh tự nhiên của nó.
Quan điểm thứ hai: Trái với quan niệm thứ nhất, quan niệm này lại chỉ đặt con người và quyền con người trong mối quan hệ xã hội. Quan niệm này cho rằng, con người chỉ là một thực thể xã hội, nên quyền của nó chỉ được xác định trong mối tương quan với các thực thể xã hội khác và vì là quan hệ xã hội nên nó được chế độ nhà nước, pháp luật điều chỉnh bảo vệ.
Quan niệm này có tính tích cực khi coi quyền con nười là một khái niệm có tính lịch sử, đặt con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Vì con người là thực thể của xã hội, có mối quan hệ phổ biến với xã hội nên quyền con người cũng luôn gắn liền với đấu tranh giai cấp, đấu tranh chống áp bức bóc lột, đấu tranh chống bạo lực, chống bất công trong xã hội. Cơ sở của quyền con người ở đây chính là trình độ phát triển của nền kinh tế, văn hóa, xã hội và do chế độ kinh tế, chế độ xã hội quyết định.
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 54 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với 119.000 VNĐ!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Hiến pháp năm 2013;
- Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003;
- Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025);
- Luật Thủy sản năm 2017;
- Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
- Anh Minh, “Điểm mới về chứng cứ và thu thập chứng cứ trong BLTTHS 2015”, [https://kiemsat.vn/diem-moi-ve-chung-cu-va-thu-thap-chung-cu-trong-bltths-2015-46623.html] (truy cập ngày 02/3/2025).
- Đinh Thế Hưng, “Bàn về giới hạn chứng minh và nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự”, [https://tapchitoaan.vn/ban-ve-gioi-han-chung-minh-va-nghia-vu-chung-minh-trong-to-tung-hinh-su] (truy cập ngày 06/3/2025).
- Hoàng Anh Tuyên, “Những nội dung mới của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về bảo vệ quyền con người và quyền công dân trong tố tụng hình sự”, [https://iluatsu.com/hinh-su/noi-dung-moi-bltths-2015-ve-bao-ve-quyen-con- nguoi-quyen-cong-dan/] (truy cập ngày 01/3/2025).
- Hoàng Thị Huyền Trang, “Bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội tại một số điểm mới ở những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015” [https://tapchicongthuong.vn/bao-dam-quyen-con-nguoi-cua-nguoi-bi-buoc-toi-tai-mot-so-diem-moi-o-nhung-nguyen-tac-co-ban-cua-bo-luat-to-tung-hinh-su-nam-2015-68979.htm] (truy cập ngày 01/3/2025).
