
- Trường học: Đại học Luật Hà Nội
- Điểm số: 9.25 điểm
- Số trang: 47 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B0988 | Năm 2025
- Luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (SĐ,BS 2021,2024,2025)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG TIỂU LUẬN
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

XEM TRƯỚC TRANG MỤC LỤC



MỤC LỤC TIỂU LUẬN CHI TIẾT
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ ĐƯỢC ĐẢM BẢO | 3 |
| 1.1. Khái niệm của nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo | 3 |
| 1.2. Đặc điểm của nguyên tắc tranh tụng | 5 |
| 1.3. Vai trò và ý nghĩa của nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong xét xử | 6 |
| CHƯƠNG 2. NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 | 8 |
| 2.1. Quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam | 8 |
| 2.2. Phân tích các quy định về nguyên tắc tranh tụng trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 | 10 |
| 2.2.1. Quyền bình đẳng trong hoạt động chứng minh | 10 |
| 2.2.2. Tính đầy đủ và hợp pháp của tài liệu, chứng cứ | 12 |
| 2.2.3. Sự có mặt của các chủ thể tại phiên tòa | 13 |
| 2.2.4. Về trách nhiệm của Tòa án | 14 |
| 2.2.5. Về nội dung tranh tụng tại phiên tòa | 15 |
| 2.2.6. Về giá trị pháp lý của kết quả tranh tụng | 16 |
| CHƯƠNG 3. Ý NGHĨA PHÁP LÝ CỦA NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ ĐƯỢC BẢO ĐẢM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ (ĐIỀU 26 BLTTHS NĂM 2015) | 17 |
| 3.1. Vị trí của nguyên tắc tranh tụng trong hệ thống nguyên tắc của BLTTHS năm 2015 | 17 |
| 3.2. Mối quan hệ giữa nguyên tắc tranh tụng với các nguyên tắc cơ bản khác | 17 |
| 3.3. Tính liên tục của nguyên tắc tranh tụng qua các giai đoạn tố tụng | 18 |
| CHƯƠNG 4. ĐÁNH GIÁ NHỮNG ĐỔI MỚI CƠ BẢN CỦA NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ ĐƯỢC BẢO ĐẢM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ (ĐIỀU 26 BLTTHS NĂM 2015) | 19 |
| 4.1. Đổi mới về mặt hình thức | 19 |
| 4.2. Đổi mới về mặt nội dung | 19 |
| 4.3. Ý nghĩa pháp lý của Điều 26 BLTTHS năm 2015 | 20 |
| CHƯƠNG 5. PHÂN TÍCH TÍNH PHÙ HỢP CỦA NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG VỚI CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG | 21 |
| 5.1. Mối liên hệ với các quy định tư pháp quốc tế về quyền tiếp cận công lý | 21 |
| 5.1.1. Những điểm tương đồng | 22 |
| 5.1.2. Những điểm khác biệt và những hạn chế | 23 |
| 5.1.3. Đánh giá mức độ tương thích giữa Điều 26 BLTTHS năm 2015 và Điều 14 ICCPR | 25 |
| 5.1.4. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về nguyên tắc đảm bảo tranh tụng nhằm phù hợp với Công ước ICCPR | 25 |
| 5.2. Mô hình tranh tụng trong tố tụng hình sự của một số nước phát triển trên thế giới | 26 |
| 5.2.1. Cải cách tư pháp hình sự Trung Quốc: Từ điều tra đến xét xử và quy định về chứng cứ | 26 |
| 5.2.2. Đảm bảo tính độc lập của Tòa án và Thẩm phán trong cải cách tư pháp của Liên bang Nga | 27 |
| 5.2.3. Hệ thống tố tụng hình sự Hoa Kỳ: Nguyên tắc phân định quyền tranh tụng và nguyên tắc chứng cứ | 28 |
| 5.2.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam | 28 |
| CHƯƠNG 6. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 | 30 |
| 6.1. Những thành tựu và tiến bộ | 30 |
| 6.1.1. Cải cách quan trọng về nguyên tắc tranh tụng | 30 |
| 6.1.2. Quyền bào chữa được bảo vệ rõ ràng hơn | 31 |
| 6.1.3. Cơ chế tranh tụng trong các phiên tòa | 31 |
| 6.2. Những hạn chế và bất cập | 32 |
| 6.2.1. Tòa án chưa thật sự độc lập trong xét xử | 32 |
| 6.2.2. Khó khăn trong việc thực hiện quyền bào chữa ở giai đoạn điều tra | 33 |
| 6.2.3. Vẫn thiếu sự đối trọng giữa các bên tham gia tố tụng | 34 |
| 6.3. Nguyên nhân của những hạn chế | 34 |
| 6.3.1. Nguyên nhân về nhận thức và tư duy pháp lý | 34 |
| 6.3.2. Nguyên nhân về tổ chức bộ máy và thể chế | 35 |
| 6.3.3. Nguyên nhân về điều kiện kinh tế - xã hội | 36 |
| 6.3.4. Nguyên nhân về năng lực của các chủ thể tham gia tố tụng | 37 |
| CHƯƠNG 7. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM | 38 |
| 7.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật | 38 |
| 7.1.1. Quy định về trình tự xét hỏi khi thực hiện thủ tục tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự | 38 |
| 7.1.2. Sửa đổi, bổ sung quy định về tranh luận tại phiên tòa | 39 |
| 7.1.3. Sửa đổi, bổ sung quy định chủ tọa phiên tòa không giới hạn quyền đặt câu hỏi của bị cáo | 40 |
| 7.2. Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng | 41 |
| 7.3. Nâng cao quyền hạn, năng lực, chất lượng tranh tụng của chủ thể mang quyền năng “gỡ tội” | 44 |
| KẾT LUẬN | 46 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 47 |
LỜI MỞ ĐẦU
Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm trong tố tụng hình sự đã và đang trở thành một yêu cầu cấp thiết tại Việt Nam trong bối cảnh cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị đề ra Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, là văn bản có ý nghĩa quan trọng định hướng toàn bộ quá trình cải cách hệ thống tư pháp Việt Nam trong giai đoạn dài, Nghị quyết đã xác định rõ yêu cầu xây dựng nền tố tụng tư pháp dân chủ, minh bạch, công bằng, với trọng tâm là nâng cao hiệu quả và hiệu lực của hoạt động xét xử, đây là định hướng chiến lược dài hạn, phù hợp với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc tranh tụng với mục tiêu đảm bảo quyền con người, quyền công dân, đến Hiến pháp năm 2013 đã hiến định nguyên tắc này thành nguyên tắc cơ bản với khoản 5 Điều 103 của Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận rõ nguyên tắc: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”, như vậy tranh tụng được xác định như một nguyên tắc hiến định, thể hiện bước tiến quan trọng trong nền tố tụng hình sự Việt Nam.
Trước khi Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2021, 2024, 2025 (sau đây gọi tắt là BLTTHS năm 2015) được ban hành, hoạt động tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam còn bộc lộ nhiều bất cập, bị hạn chế cả về lý luận và thực tiễn. Cụ thể như vai trò bị động của luật sư, sự lấn át của chức năng buộc tội so với quyền bào chữa, sự thiếu chủ động của bị cáo và người tham gia tố tụng khác trong việc trình bày chứng cứ, lập luận, phản biện tại phiên tòa dẫn đến tình trạng mất cân bằng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội. Tình trạng này đã tác động tiêu cực đến hiệu quả xét xử, quyền tiếp cận công lý của người dân, cũng như làm suy giảm sự tin tưởng của xã hội vào hệ thống tư pháp.
Từ cơ sở của nguyên tắc tranh tụng được đảm bảo tại Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015 ra đời, đặc biệt quy định tại Điều 26 quy định về nguyên tắc hiến định “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”, đánh dấu bước đổi mới mạnh mẽ, thể hiện rõ tư tưởng cải cách tư pháp, thể hiện quan điểm lấy tranh tụng làm trung tâm của hoạt động xét xử nhằm bảo đảm công lý và bình đẳng trong tố tụng hình sự. Tuy nhiên, qua gần 10 năm thực thi, thực tiễn đã chỉ ra những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng nguyên tắc này vào hoạt động tư pháp. Nhiều phiên tòa xét xử vẫn chưa thực sự đề cao đầy đủ vai trò tranh tụng; quyền bình đẳng của các bên tham gia tố tụng chưa được bảo đảm trọn vẹn; việc thực hành tranh tụng đôi khi còn hình thức, thiếu thực chất.
Do vậy, hoạt động nghiên cứu sâu về nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam, đặc biệt trên cơ sở phân tích lý luận và đánh giá toàn diện thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hiện hành là yêu cầu cấp bách, nhằm nhận diện rõ các ưu điểm, hạn chế và tiếp tục đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự, góp phần xây dựng nền tư pháp hiệu quả, dân chủ và công bằng trên cơ sở bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo đúng tinh thần Hiến pháp năm 2013 và tinh thần của Nghị quyết số 27/NQ-TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương với yêu cầu “Xây dựng chế định tố tụng tư pháp lấy xét xử là trung tâm, tranh tụng là đột phá; bảo đảm tố tụng tư pháp dân chủ, công bằng, văn minh, pháp quyền, hiện đại, nghiêm minh, dễ tiếp cận, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân”.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ ĐƯỢC ĐẢM BẢO
1.1. Khái niệm của nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo
Theo từ điển tiếng Việt “nguyên tắc” là “Điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loại việc làm”. Theo Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự, Đại học quốc gia Hà Nội cũng xác định nguyên tắc là “tư tưởng chỉ đạo, quy tắc cơ bản của một hoạt động nào đó”.
Khái niệm “tranh tụng”, trong khoa học luật tố tụng hình sự, “tranh tụng” có thể được xem xét trên nhiều khía cạnh: Một hoạt động tố tụng, một mô hình tố tụng và một nguyên tắc tố tụng hình sự. Theo từ điển Luật Black’s Law Dictionary: Có hai khái niệm về tranh tụng như: Định nghĩa thứ nhất là Hệ thống tranh tụng (Adversary System) – là hệ thống tòa án trong đó Thẩm phán và/hoặc Bồi thẩm đoàn sẽ phán quyết dựa trên sự tranh luận giữa Công tố viên và Luật sư bào chữa, còn được gọi là thủ tục tố tụng buộc tội và định nghĩa thứ hai là phiên tòa tranh tụng (Adversary Trial) – là phiên tòa với hai bên đối lập được trao cơ hội để trình bày vấn đề mà mình đang tranh chấp.
Bài viết này xin tiếp cận đến khía cạnh tranh tụng là một nguyên tắc của tố tụng hình sự trên cơ sở quy định của Điều 26 BLTTHS năm 2015, theo đó “tranh tụng” là việc một bên có quyền biết về chứng cứ và lập luận của bên kia đồng thời đưa ra các chứng cứ và lập luận để phản bác, có nhiều cách tìm ra sự thật khách quan của vụ án và tranh tụng là một trong những phương pháp tốt nhất chẳng những tìm ra được sự thật khách quan mà còn đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự. Có nhiều quan điểm về tranh tụng:
- Thứ nhất, quan điểm của tác giả Nguyễn Đức Mai cho rằng tranh tụng là một quá trình xác định sự thật khách quan về vụ án, đồng thời cũng chính là phương tiện để đạt được mục đích các nhiệm vụ đặt ra của TTHS và bảo đảm cho các chủ thể tham gia vào quá trình TTHS có thể thực hiện một các có hiệu quả nhất chức năng của mình ở tất cả các giai đoạn TTHS.
- Thứ hai, quan điểm của tác giả Nguyễn Thái Phúc cho rằng: Tranh tụng là một quá trình tồn tại, vận động, đấu tranh nhằm phủ định lẫn nhau giữa hai chức năng cơ bản (chứ năng buộc tội và chức năng bào chữa), là hai chức năng có định hướng ngược chiều, đối trọng nhau, có quyền ngang nhau bảo vệ ý kiến, lập luận, lợi ích của mình và phản bác ý kiến, lập luận và lợi ích của bên kia mà đỉnh điểm của quá trình này diễn ra tại phiên tòa sơ thẩm trước Tòa án có vai trò trọng tài.
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 47 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với 119.000 VNĐ!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Hiến pháp năm 2013;
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025;
- Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới;
- Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
- Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về viêc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới;
- Viện Ngôn ngữ học, 2003, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng;
- Trần Văn Biên – Đinh Thế Hưng, Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, NXB Hồng Đức (2016);
- Phan Hùng, 2018, Luận văn Thạc sĩ Thực hiện nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Việt Nam, NXB Học viện Khoa học xã hội;
- Bành Quốc Tuấn – Lương Khải Ân, “Mô hình tố tụng hình sự một số quốc gia điển hình trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về “Cải cách tư pháp trong lĩnh vực tư pháp hình sự”, do Trường Đại học Luật – Đại học Huế và Tạp chí Kiểm sát – Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, do Trường Đại học Luật – Đại học Huế tổ chức năm 2021 tại Đại học Huế;
- Lê Thị Khánh Linh – Lê Ngọc Phú, “Cải cách tư pháp ở một số quốc gia trên thế giới và vài suy nghĩ về cải cách tư pháp hình sự ở Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về “Cải cách tư pháp trong lĩnh vực tư pháp hình sự”, do Trường Đại học Luật – Đại học Huế và Tạp chí Kiểm sát – Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, do Trường Đại học Luật – Đại học Huế tổ chức năm 2021 tại Đại học Huế
- Bành Quốc Tuấn – Lương Khải Ân, “Mô hình tố tụng hình sự một số quốc gia điển hình trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về “Cải cách tư pháp trong lĩnh vực tư pháp hình sự”, do Trường Đại học Luật – Đại học Huế và Tạp chí Kiểm sát – Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, do Trường Đại học Luật – Đại học Huế tổ chức năm 2021 tại Đại học Huế
- Nguyễn Thị Thanh Hải (2019), “Pháp luật quốc tế về quyền tiếp cận công lý và thực tiễn ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam;
- Nguyễn Văn Điệp và Lê Văn Quyên, Hiến pháp năm 2013 và pháp luật về yêu cầu tranh tụng trong cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay;
- Temminck Tuinstra, J. P. W. (2009). Defence counsel in international criminal law. [Thesis, fully internal, Universiteit van Amsterdam
- Nguyễn Hoàng Thịnh, “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm tại Điều 26 của BLTTHS năm 2015”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, [https://tapchitoaan.vn/nguyen-tac-tranh-tung-trong-xet-xu-duoc-bao-dam-tai-dieu-26-cua-bltths-nam-2015].
