![[Tiểu luận 2025] Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (9 điểm) (MS-B0988) [Tiểu luận 2025] Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (9 điểm) (MS-B0988)](https://cdn.tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2026/01/nguyen-tac-tranh-tung-trong-xet-xu-duoc-bao-dam-trong-bltths-2015-1.png)
THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 47 trang (Không bao gồm bìa, Mục lục)
- Năm: 2025 / Mã số: B0988.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ ĐƯỢC ĐẢM BẢO | 3 |
| 1.1. Khái niệm của nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo | 3 |
| 1.2. Đặc điểm của nguyên tắc tranh tụng | 5 |
| 1.3. Vai trò và ý nghĩa của nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong xét xử | 6 |
| CHƯƠNG 2. NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 | 8 |
| 2.1. Quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam | 8 |
| 2.2. Phân tích các quy định về nguyên tắc tranh tụng trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 | 10 |
| 2.2.1. Quyền bình đẳng trong hoạt động chứng minh | 10 |
| 2.2.2. Tính đầy đủ và hợp pháp của tài liệu, chứng cứ | 12 |
| 2.2.3. Sự có mặt của các chủ thể tại phiên tòa | 13 |
| 2.2.4. Về trách nhiệm của Tòa án | 14 |
| 2.2.5. Về nội dung tranh tụng tại phiên tòa | 15 |
| 2.2.6. Về giá trị pháp lý của kết quả tranh tụng | 16 |
| CHƯƠNG 3. Ý NGHĨA PHÁP LÝ CỦA NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ ĐƯỢC BẢO ĐẢM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ (ĐIỀU 26 BLTTHS NĂM 2015) | 17 |
| 3.1. Vị trí của nguyên tắc tranh tụng trong hệ thống nguyên tắc của BLTTHS năm 2015 | 17 |
| 3.2. Mối quan hệ giữa nguyên tắc tranh tụng với các nguyên tắc cơ bản khác | 17 |
| 3.3. Tính liên tục của nguyên tắc tranh tụng qua các giai đoạn tố tụng | 18 |
| CHƯƠNG 4. ĐÁNH GIÁ NHỮNG ĐỔI MỚI CƠ BẢN CỦA NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ ĐƯỢC BẢO ĐẢM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ (ĐIỀU 26 BLTTHS NĂM 2015) | 19 |
| 4.1. Đổi mới về mặt hình thức | 19 |
| 4.2. Đổi mới về mặt nội dung | 19 |
| 4.3. Ý nghĩa pháp lý của Điều 26 BLTTHS năm 2015 | 20 |
| CHƯƠNG 5. PHÂN TÍCH TÍNH PHÙ HỢP CỦA NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG VỚI CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG | 21 |
| 5.1. Mối liên hệ với các quy định tư pháp quốc tế về quyền tiếp cận công lý | 21 |
| 5.1.1. Những điểm tương đồng | 22 |
| 5.1.2. Những điểm khác biệt và những hạn chế | 23 |
| 5.1.3. Đánh giá mức độ tương thích giữa Điều 26 BLTTHS năm 2015 và Điều 14 ICCPR | 25 |
| 5.1.4. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về nguyên tắc đảm bảo tranh tụng nhằm phù hợp với Công ước ICCPR | 25 |
| 5.2. Mô hình tranh tụng trong tố tụng hình sự của một số nước phát triển trên thế giới | 26 |
| 5.2.1. Cải cách tư pháp hình sự Trung Quốc: Từ điều tra đến xét xử và quy định về chứng cứ | 26 |
| 5.2.2. Đảm bảo tính độc lập của Tòa án và Thẩm phán trong cải cách tư pháp của Liên bang Nga | 27 |
| 5.2.3. Hệ thống tố tụng hình sự Hoa Kỳ: Nguyên tắc phân định quyền tranh tụng và nguyên tắc chứng cứ | 28 |
| 5.2.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam | 28 |
| CHƯƠNG 6. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 | 30 |
| 6.1. Những thành tựu và tiến bộ | 30 |
| 6.1.1. Cải cách quan trọng về nguyên tắc tranh tụng | 30 |
| 6.1.2. Quyền bào chữa được bảo vệ rõ ràng hơn | 31 |
| 6.1.3. Cơ chế tranh tụng trong các phiên tòa | 31 |
| 6.2. Những hạn chế và bất cập | 32 |
| 6.2.1. Tòa án chưa thật sự độc lập trong xét xử | 32 |
| 6.2.2. Khó khăn trong việc thực hiện quyền bào chữa ở giai đoạn điều tra | 33 |
| 6.2.3. Vẫn thiếu sự đối trọng giữa các bên tham gia tố tụng | 34 |
| 6.3. Nguyên nhân của những hạn chế | 34 |
| 6.3.1. Nguyên nhân về nhận thức và tư duy pháp lý | 34 |
| 6.3.2. Nguyên nhân về tổ chức bộ máy và thể chế | 35 |
| 6.3.3. Nguyên nhân về điều kiện kinh tế - xã hội | 36 |
| 6.3.4. Nguyên nhân về năng lực của các chủ thể tham gia tố tụng | 37 |
| CHƯƠNG 7. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM | 38 |
| 7.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật | 38 |
| 7.1.1. Quy định về trình tự xét hỏi khi thực hiện thủ tục tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự | 38 |
| 7.1.2. Sửa đổi, bổ sung quy định về tranh luận tại phiên tòa | 39 |
| 7.1.3. Sửa đổi, bổ sung quy định chủ tọa phiên tòa không giới hạn quyền đặt câu hỏi của bị cáo | 40 |
| 7.2. Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng | 41 |
| 7.3. Nâng cao quyền hạn, năng lực, chất lượng tranh tụng của chủ thể mang quyền năng “gỡ tội” | 44 |
| KẾT LUẬN | 46 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 47 |
LỜI MỞ ĐẦU
Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm trong tố tụng hình sự đã và đang trở thành một yêu cầu cấp thiết tại Việt Nam trong bối cảnh cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị đề ra Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, là văn bản có ý nghĩa quan trọng định hướng toàn bộ quá trình cải cách hệ thống tư pháp Việt Nam trong giai đoạn dài, Nghị quyết đã xác định rõ yêu cầu xây dựng nền tố tụng tư pháp dân chủ, minh bạch, công bằng, với trọng tâm là nâng cao hiệu quả và hiệu lực của hoạt động xét xử[1], đây là định hướng chiến lược dài hạn, phù hợp với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc tranh tụng với mục tiêu đảm bảo quyền con người, quyền công dân, đến Hiến pháp năm 2013 đã hiến định nguyên tắc này thành nguyên tắc cơ bản với khoản 5 Điều 103 của Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận rõ nguyên tắc: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”[2], như vậy tranh tụng được xác định như một nguyên tắc hiến định, thể hiện bước tiến quan trọng trong nền tố tụng hình sự Việt Nam.
Trước khi Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2021 (sau đây gọi tắt là BLTTHS năm 2015) được ban hành, hoạt động tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam còn bộc lộ nhiều bất cập, bị hạn chế cả về lý luận và thực tiễn. Cụ thể như vai trò bị động của luật sư, sự lấn át của chức năng buộc tội so với quyền bào chữa, sự thiếu chủ động của bị cáo và người tham gia tố tụng khác trong việc trình bày chứng cứ, lập luận, phản biện tại phiên tòa dẫn đến tình trạng mất cân bằng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội. Tình trạng này đã tác động tiêu cực đến hiệu quả xét xử, quyền tiếp cận công lý của người dân, cũng như làm suy giảm sự tin tưởng của xã hội vào hệ thống tư pháp.
Từ cơ sở của nguyên tắc tranh tụng được đảm bảo tại Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015 ra đời, đặc biệt quy định tại Điều 26 quy định về nguyên tắc hiến định “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”[3], đánh dấu bước đổi mới mạnh mẽ, thể hiện rõ tư tưởng cải cách tư pháp, thể hiện quan điểm lấy tranh tụng làm trung tâm của hoạt động xét xử nhằm bảo đảm công lý và bình đẳng trong tố tụng hình sự. Tuy nhiên, qua gần 10 năm thực thi, thực tiễn đã chỉ ra những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng nguyên tắc này vào hoạt động tư pháp. Nhiều phiên tòa xét xử vẫn chưa thực sự đề cao đầy đủ vai trò tranh tụng; quyền bình đẳng của các bên tham gia tố tụng chưa được bảo đảm trọn vẹn; việc thực hành tranh tụng đôi khi còn hình thức, thiếu thực chất.
Do vậy, hoạt động nghiên cứu sâu về nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam, đặc biệt trên cơ sở phân tích lý luận và đánh giá toàn diện thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hiện hành là yêu cầu cấp bách, nhằm nhận diện rõ các ưu điểm, hạn chế và tiếp tục đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự, góp phần xây dựng nền tư pháp hiệu quả, dân chủ và công bằng trên cơ sở bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo đúng tinh thần Hiến pháp năm 2013 và tinh thần của Nghị quyết số 27/NQ-TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương với yêu cầu “Xây dựng chế định tố tụng tư pháp lấy xét xử là trung tâm, tranh tụng là đột phá; bảo đảm tố tụng tư pháp dân chủ, công bằng, văn minh, pháp quyền, hiện đại, nghiêm minh, dễ tiếp cận, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân”[4].
[1] Khoản 1 Mục I, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
[2] Khoản 5 Điều 103, Hiến pháp năm 2013.
[3] Điều 26, BLTTHS năm 2015.
[4] Khoản 7 Mục III, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về viêc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
[… Vui lòng tải về để xem đầy đủ nội dung tài liệu này]
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |
