
- Trường học: Đại học Luật Hà Nội
- Điểm số: 8.50 điểm
- Số trang: 12 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B1032 | Năm 2025
- Luật áp dụng: Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024
XEM TRƯỚC NỘI DUNG TIỂU LUẬN
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

XEM TRƯỚC TRANG MỤC LỤC

MỤC LỤC TIỂU LUẬN CHI TIẾT
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1. NHẬN DIỆN NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ QUỐC GIA | 2 |
| 1.1. Khái niệm “Người chưa thành niên” | 2 |
| 1.2. Khái niệm “Người chưa thành niên phạm tội” | 2 |
| 1.3. Khái niệm “Tư pháp người chưa thành niên” | 3 |
| 1.4. Khái niệm “Xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội” | 4 |
| CHƯƠNG 2. BIỆN PHÁP XỬ LÝ CHUYỂN HƯỚNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI – MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN | 6 |
| 2.1. Đặc điểm của biện pháp xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội | 6 |
| 2.1.1. Bản chất của xử lý chuyển hướng là xử lý người chưa thành niên phạm tội bằng các biện pháp thay thế trách nhiệm hình sự mà không bị Toà án xét xử | 6 |
| 2.1.2. Thời điểm áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng càng sớm càng tốt | 6 |
| 2.1.3. Mục đích của các biện pháp người chưa thành niên nhằm xử lý kịp thời và hiệu quả đối với đối tượng đặc biệt này | 7 |
| 2.1.4. Áp dụng biện pháp người chưa thành niên phạm tội cần thực hiện những nguyên tắc nhất định | 7 |
| 2.2. Biện pháp xử lý chuyển hướng “Hạn chế khung giờ đi lại” | 7 |
| 2.3. Biện pháp “Giáo dục tại xã, phường, thị trấn” | 9 |
| KẾT LUẬN | 11 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 12 |
LỜI MỞ ĐẦU
Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 ra đời là một bước tiến quan trọng nhằm hoàn thiện pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội, tăng cường giáo dục, hỗ trợ cũng như xây dựng quy trình thủ tục tố tụng phù hợp với đổ tuổi, tâm lý người phạm tội. Biện pháp xử lý chuyển hướng nhằm chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, góp phần xây dựng nhà nước Pháp quyền mà ở đó các quyền trẻ em được pháp luật hình sự ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm. Bởi lẽ, NCTN khác người trưởng thành về sự phát triển thể chất, tâm lý, do chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất, nhận thức nên khả năng kiểm soát hành vi cũng rất hạn chế. Những sự khác biệt này là lý do để xây dựng hệ thống tư pháp chuyên biệt đối với NCTN vì “Trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt, kể cả sự bảo vệ về mặt pháp lý”[1].
Chính vì vậy, những biện pháp xử lý dành riêng cho đối tượng này là điều cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với hệ thống tư pháp nói chung và chủ thể là người thành niên chưa phạm tội nói riêng. Điều 36 LTPNCTN 2024 quy định 12 biện pháp XLCH, tuy nhiên trong phạm vi bài viết này, tác giải tập trung làm rõ hai biện pháp “Hạn chế khung giờ đi lại” và “Giáo dục tại phường, xã, thị trấn”.
[1] Xem: Lời mở đầu của Công ước Liên Hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989.
CHƯƠNG 1. NHẬN DIỆN NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ QUỐC GIA
1.1. Khái niệm “Người chưa thành niên”
Thuật ngữ “NCTN” được định nghĩa một cách đơn giản bởi Quy tắc của LHQ về bảo vệ NCTN bị tước tự do[1], tại Điều 11 (a) quy định “NCTN là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với người đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Điều 21 BLDS 2015 ghi nhận “NCTN là người chưa đủ 18 tuổi”, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của một công dân theo quy định của pháp luật. So sánh khái niệm NCTN với khái niệm trẻ em có thể nhận thấy khái niệm trẻ em chủ yếu dựa vào độ tuổi trong khi khái niệm NCTN còn phụ thuộc vào cách thức mà một đứa trẻ hoặc một thanh niên bị xử lý khi phạm tội[2]. Việc xác định khái niệm NCTN có ý nghĩa quan trọng vì nó xác định phạm vi đối tượng được áp dụng những quy định khung pháp lý tư pháp hình sự của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, xác định NCTN là đối tượng dẫn đến áp dụng biện pháp XLCH đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của LTPNCTN 2024.
1.2. Khái niệm “Người chưa thành niên phạm tội”
Điều 2.2 (c) Quy tắc Bắc Kinh đưa ra định nghĩa NCTN phạm tội là “trẻ em hay thanh thiếu niên bị cáo buộc, hay bị kết luận là đã phạm tội”. Kết hợp với quy định tại Điều 11 (a) có thể đưa ra khái niệm: NCTN phạm tội là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với người đó quy định tuổi thành niên sớm hơn, bị cáo buộc hay bị kết luận là đã phạm tội.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, NCTN phạm tội là người thực hiện hành vi phạm pháp khi chưa đủ 18 tuổi. Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được là tội phạm. Tuy nhiên, các chủ thể của tội phạm chưa thỏa mãn yêu cầu nhất định về năng lực chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật. Theo đó, NCTN phạm tội nói chung là người mà tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự chưa đến tuổi trưởng thành sẽ chịu trách nhiệm như sau: (i) Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác; (ii) người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định trong bộ luật này[3].
[1] Được thông qua bởi Nghị quyết 45/113 của Đại hội đồng LHQ ngày 14/12/1990.
[2] Xem Lê Huỳnh Tấn Duy (2018), Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi trên cơ sở khung pháp lý của Liên Hợp Quốc, Nxb. Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh, tr. 3.
[3] Xem: Khoản b Điều 12 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 12 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với 39.000 VNĐ!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025;
- Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024;
- Công ước của LHQ về quyền trẻ em năm 1989;
- Các Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về hoạt động tư pháp đối với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh) (1985).
