
- Trường học: Đại học Luật Hà Nội
- Điểm số: 8.75 điểm
- Số trang: 29 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B0982 | Năm 2025
- Luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (SĐ,BS 2021,2024,2025)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG TIỂU LUẬN
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

XEM TRƯỚC TRANG MỤC LỤC

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| LỜI NÓI ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUY ĐỊNH BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG BLTTHS NĂM 2015 ĐẢM BẢO VỀ QUYỀN CON NGƯỜI | 3 |
| 1.1. Khái niệm về biện pháp ngăn chặn | 3 |
| 1.2. Chính sách pháp luật hình sự về biện pháp ngăn chặn | 4 |
| CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 ĐẢM BẢO VỀ QUYỀN CON NGƯỜI | 8 |
| 2.1. Biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp | 9 |
| 2.2. Biện pháp bắt người phạm tội quả tang | 10 |
| 2.3. Bắt người đang bị truy nã | 12 |
| 2.4. Biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam | 13 |
| 2.5. Biện pháp tạm giữ | 16 |
| 2.6. Biện pháp tạm giam | 18 |
| 2.7. Biện pháp bảo lĩnh | 21 |
| 2.8. Biện pháp đặt tiền để bảo đảm | 23 |
| 2.9. Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú | 25 |
| 2.10. Biện pháp tạm hoãn xuất cảnh | 26 |
| KẾT LUẬN | 28 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 29 |
LỜI MỞ ĐẦU
Mối quan hệ giữa các quyền tự do công dân với biện pháp ngăn chặn tố tụng hình sự là mối quan hệ giữa quyền hiến định về quyền con người với biện pháp mang tính quyền lực nhà nước do pháp luật tố tụng hình sự quy định, được cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng, tác động lên tâm lý, tư tưởng, hành vi người tham gia tố tụng, buộc họ thực hiện các nghĩa vụ của mình để bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Việt Nam đã trải qua các bản Hiến pháp, đến Hiến pháp năm 2013 đã đánh dấu việc ghi nhận và đảm bảo thực hiện các quyền con người, quyền công dân và các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Cụ thể, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Đồng thời, Điều 9 Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người (UDHR) quy định “không ai bị bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện”; Điều 9 Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (ICCPR) quy định “mọi người có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân, không ai bị bắt hoặc giam giữ vô cớ”; khoản 1 Điều 4 Công ước chống tra tấn (CAT) bắt buộc mỗi quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng mọi hành vi “tra tấn” đều là tội phạm theo pháp luật hình sự nước đó. Điều đó đã đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự nhất là các quy định về biện pháp ngăn chặn để tránh bị lạm dụng trong thực tế khi áp dụng của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Các biện pháp ngăn chặn trong BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025 (sau đây viết tắt là BLTTHS năm 2015) được quy định tại Chương VII: Biện pháp ngăn chặn, Biện pháp cưỡng chế. Trong Chương này có 22 Điều, về các biện pháp ngăn chặn có 17 Điều. Nếu như BLTTHS năm 2003 quy định các biện pháp ngăn chặn trong cùng chương, các biện pháp cưỡng chế tố tụng khác được quy định rải rác trong nhiều chương và ở các điều luật khác nhau trong từng giai đoạn tố tụng thì cách thức thiết kế bố cục tại Chương VII của BLTTHS năm 2015 có một điểm mới khi đã thu hút toàn bộ các biện pháp cưỡng chế, biện pháp ngăn chặn được quy định trong cùng một chương để điều chỉnh chung cho thống nhất. Bên cạnh đó, từng biện pháp ngăn chặn được BLTTHS năm 2015 điều chỉnh bởi năm yếu tố đó là: thẩm quyền áp dụng; căn cứ áp dụng; trình tự, thủ tục và thời hạn áp dụng. Đây chính là điểm khác biệt rất lớn so với các quy định trước đây nhằm đảm bảo tính khoa học, chặt chẽ, thống nhất, rõ ràng, dễ áp dụng trong thực tiễn thi hành dựa trên các quy định của Hiến pháp năm 2013 về tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUY ĐỊNH BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG BLTTHS NĂM 2015 ĐẢM BẢO VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
1.1. Khái niệm về biện pháp ngăn chặn
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sau đây là BLTTHS năm 2015) chưa có quy định khái niệm cụ thể về biện pháp ngăn chặn, nhưng thông qua khoản 1 Điều 109 BLTTHS năm 2015 đã có những khái quát nhất định: “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh”. Có thể thấy rằng, các biện pháp ngăn chặn được BLTTHS năm 2015 ghi nhận rất đa dạng, có tính chất và mức độ khác nhau giúp cho quá trình áp dụng trở nên thuận tiện, phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Tuy nhiên với nội dung tại khoản 1 Điều 19 BLTTHS năm 2015 cũng chưa thể hiện đây là một khái niệm về biện pháp ngăn chặn, mà nội dung này hàm chứa về mục đích và căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án. Vì vậy nghiên cứu về khái niệm của biện pháp ngăn chặn là điều cần thiết để đảm bảo về mặt lý luận và áp dụng các biện pháp này một cách có căn cứ.
Hiện nay có nhiều quan điểm về khái niệm biện pháp ngăn chặn, trong đó quan điểm của tác giả Nguyễn Thị Hiếu cho rằng: “Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế do pháp luật tố tụng hình sự quy định và được áp dụng với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội hoặc có những hành động gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”. Quan điểm trên thể hiện đây là một biện pháp cưỡng chế trong pháp luật tố tụng hình sự, có tính bắt buộc, hạn chế một số quyền của người bị áp dụng. Khái niệm này cũng chỉ rõ chủ thể bị áp dụng bao gồm bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố hình sự. Bên cạnh đó có theo quan điểm của PGS.TS Phan Trung Hiền và nhóm tác giả khác nêu trong quyển “Thuật ngữ pháp lý tố tụng hình sự” cho rằng: “Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp mang tính quyền lực nhà nước, tác động trực tiếp đến quyền tự do thân thể và quyền tự do đi lại của con người, được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự do chủ thể có thẩm quyền áp dụng với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, người bị kết án là cá nhân trong quá trình giải quyết vụ án nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội hoặc hành vi gây khó khăn, cản trở quá trình giải quyết vụ án hình sự”. Có thể thấy với quan điểm này, khái niệm biện pháp ngăn chặn được ghi nhận khá chi tiết và đầy đủ. Khác với các khái niệm trong những quan điểm trên, khái niệm này bao hàm cả hậu quả pháp lý và cụ thể hóa chủ thể bị áp dụng. Trong đó, hậu quả pháp lý của biện pháp này là tác động trực tiếp đến quyền tự do thân thể và quyền tự do đi lại của con người, chủ thể bị áp dụng biện pháp này bao gồm người bị bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, người bị kết án. Tóm lại, quan điểm này nhấn mạnh vào các nội dung chính như bản chất quyền lực nhà nước, tác động đến quyền tự do con người, đối tượng áp dụng, cơ sở pháp lý và mục tiêu của biện pháp này. Với khả năng bao quát và cách thể hiện cụ thể, nhóm tác giả đồng tình và ủng hộ đối với quan điểm trên.
1.2. Chính sách pháp luật hình sự về biện pháp ngăn chặn
Trong bất kỳ lĩnh vực khoa học pháp lý nào, để hiểu rõ bản chất và thuận tiện cho quá trình nghiên cứu, trước hết cần tìm hiểu về mặt lý luận, khái niệm của vấn đề đó. Đây là tiền đề quan trọng cho việc phân tích, nghiên cứu có hiệu quả và đạt chất lượng. Để tìm hiểu về chính sách hình sự liên quan đến biện pháp ngăn chặn, trước hết cần khái quát khái niệm của chính sách hình sự.
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 29 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với 99.000 VNĐ!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 (Luật số 19/2003/QH11) ngày 26 tháng 11 năm 2003.
- Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (Luật số 101/2015/QH13) ngày 27 tháng 11 năm 2015.
- Lê Thu Thảo (2020), “Quyền con người trong các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Tạp chí Toà án nhân dân, đường dẫn: https://tapchitoaan.vn/quyen-con-nguoi-trong-cac-bien-phap-ngan-chan-theo-quy-dinh-cua-phap-luat-to-tung-hinh-su-viet-nam?, truy cập lần cuối ngày 02/3/2025.
- Nguyễn Đức Mai (2019), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng Hình sự, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật.
- Nguyễn Thanh Huyền (2024), “Bảo đảm quyền con người trong các biện pháp ngăn chặn giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam theo quy định của BLTTHS năm 2015 và kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Điện tử Luật sư Việt Nam, https://lsvn.vn/bao-dam-quyen-con-nguoi-trong-cac-bien-phap-ngan-chan-giu-%20nguoi-trong-truong-hop-khan-cap-bat-tam-giu-tam-giam-theo-quy-dinh-cua-bltths-%20nam-2015-va-kien-nghi-hoan-thien-1710863846-a141979.html, truy cập lần cuối ngày 03/3/2025
- Nguyễn Thị Huân (2013), “Biện pháp ngăn chặn bắt người phạm tội quả tang trong BLTTHS Việt Nam”, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
- Phạm Lê Duy Trường (2020), “Một số vấn đề trao đổi về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015”, https://dhannd.bocongan.gov.vn/mot-so-van-de-trao-doi-ve-bien-phap-tam-hoan-xuat-canh-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-to-tung-hinh-su-nam-2015-a-558, truy cập ngày 02/3/2025.
- Phan Trung Hiền (2021), Thuật ngữ pháp lý tố tụng hình sự, Nxb Chính Trị Quốc Gia Sự Thật, Hà Nội.
- Phương Thảo (2017), “Những điểm mới trong Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) năm 2015, Báo điện tử Cộng sản.
