
- Trường học: Đại học Luật Hà Nội
- Điểm số: 9.25 điểm
- Số trang: 29 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B0984 | Năm 2025
- Luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (SĐ,BS 2021,2024,2025)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG TIỂU LUẬN
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

XEM TRƯỚC TRANG MỤC LỤC

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| LỜI NÓI ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1. CÁC QUY ĐỊNH VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 | 3 |
| 1.1. Giữ người (Điều 110 BLTTHS) | 3 |
| 1.2. Bắt người phạm tội quả tang (Điều 111 BLTTHS) | 6 |
| 1.3. Bắt người đang bị truy nã (Điều 112 BLTTHS) | 7 |
| 1.4. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Điều 113 BLTTHS) | 8 |
| 1.5. Biện pháp tạm giữ (Điều 117 BLTTHS năm 2015) | 9 |
| 1.6. Biện pháp tạm giam (Điều 119 BLTTHS năm 2015) | 11 |
| 1.7. Biện pháp bảo lĩnh (Điều 121 BLTTHS năm 2015) | 13 |
| 1.8. Đặt tiền để bảo đảm (Điều 122 BLTTHS năm 2015) | 15 |
| 1.9. Cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 123 BLTTHS năm 2015) | 16 |
| 1.10. Tạm hoãn xuất cảnh (Điều 124 BLTTHS năm 2015) | 19 |
| CHƯƠNG 2. ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TẠI CÁC QUY ĐỊNH VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 | 21 |
| 2.1. Giữ người (Điều 110 BLTTHS) | 21 |
| 2.2. Biện pháp bắt người phạm tội quả tang (Điều 111 BLTTHS) | 21 |
| 2.3. Biện pháp bắt người đang bị truy nã (Điều 112 BLTTHS) | 22 |
| 2.4. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Điều 113 BLTTHS) | 22 |
| 2.5. Biện pháp tạm giữ (Điều 117 BLTTHS năm 2015) | 23 |
| 2.6. Biện pháp tạm giam (Điều 119 BLTTHS năm 2015) | 23 |
| 2.7. Biện pháp bảo lĩnh (Điều 121 BLTTHS năm 2015) | 24 |
| 2.8. Đặt tiền để bảo đảm (Điều 122 BLTTHS năm 2015) | 24 |
| 2.9. Cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 123 BLTTHS năm 2015) | 25 |
| 2.10. Tạm hoãn xuất cảnh (Điều 124 BLTTHS năm 2015) | 25 |
| KẾT LUẬN | 27 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 29 |
LỜI MỞ ĐẦU
Quyền con người là một trong những tiêu chí tối thượng và là mục tiêu quan trọng trong các hệ thống pháp luật. Qua các giai đoạn lập pháp, pháp luật Việt Nam không ngừng đổi mới và phát triển, việc bảo đảm quyền con người ngày càng trở thành một yêu cầu thiết yếu. Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Và nguyên tắc này cũng được thể hiện trong các quy định của Hiến pháp về nhiệm vụ của các cơ quan có thẩm quyền. Theo đó, một trong những nhiệm vụ của Chính phủ, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân là “Bảo vệ quyền con người”.
Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, bên cạnh việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước và xã hội, vấn đề về bảo vệ quyền con người cũng rất được chú trọng và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS năm 2015) đã thể hiện rõ tinh thần này. Một trong những biểu hiện đề cao quyền con người trong BLTTHS năm 2015 là các quy định liên quan đến các biện pháp ngăn chặn. Cần hiểu rằng, các biện pháp ngăn chặn là công cụ quan trọng trong tố tụng hình sự. Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn cũng dẫn đến nguy cơ tác động sâu sắc đến quyền con người của những người bị buộc tội. Nếu pháp luật không có những quy định đảm bảo quyền con người trong các biện pháp ngăn chặn thì rất dễ gây ra những hậu quả nghiêm trọng không chỉ về mặt pháp lý mà còn về mặt nhân đạo. Chính vì vậy, việc áp dụng các biện pháp này không thể tách rời khỏi nguyên tắc bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền tự do và quyền bất khả xâm phạm về thân thể của các cá nhân và những quyền cơ bản khác được ghi nhận trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết.
BLTTHS năm 2015 đã đánh dấu một bước tiến lớn về việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự tại Việt Nam, đặc biệt là trong việc quy định các biện pháp ngăn chặn. Với các quy định mới mẻ và tiến bộ của BLTTHS năm 2015, có thể thấy rằng quyền con người được bảo vệ một cách chặt chẽ hơn, tránh việc lạm dụng quyền lực của cơ quan tố tụng, đồng thời cũng giúp cho việc đảm bảo quyền lợi hợp pháp của cá nhân được rõ ràng và minh bạch hơn.
Tiểu luận này sẽ phân tích và làm rõ các quy định về biện pháp ngăn chặn trong BLTTHS năm 2015, từ đó chứng minh rằng các quy định này đã thực sự đảm bảo quyền con người, đặc biệt là quyền tự do, quyền không bị xâm phạm thân thể và quyền được bảo vệ trong quá trình tố tụng hình sự.
CHƯƠNG 1. CÁC QUY ĐỊNH VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Giữ người (Điều 110 BLTTHS)
Trước đây, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS năm 2003) có quy định về biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp tại Điều 81. Theo đó, các trường hợp được bắt khẩn cấp sẽ bao gồm: (1) Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; (2) Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn; (3) Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ. Và khoản 2 Điều này quy định như sau:
Trong mọi trường hợp, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn.
Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ bắt khẩn cấp quy định tại Điều này. Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát phải trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.
Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Nếu Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn thì người đã ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt.
Tuy nhiên, sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành thì quy định này đã không còn phù hợp với tinh thần của Hiến pháp. Cụ thể là tại khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định”. Như vậy, quy định tại Điều 81 BTTHS 2003 là không còn phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 khi cho phép việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp diễn ra trước khi có quyết định phê chuẩn. Do đó, đến Bộ luật BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi thành biện pháp “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp”. Điều này không chỉ phù hợp với Hiến định mà còn thể hiện quan điểm lập pháp tiến bộ, coi trọng và bảo vệ quyền con người.
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 29 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với 99.000 VNĐ!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Hiến pháp năm 2013 sửa đổi, bổ sung năm 2025;
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003;
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025;
- Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015.
