
- Trường học: Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
- Điểm số: 9.25 điểm
- Số trang: 18 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B0921 | Năm 2025
- Luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (SĐ,BS 2021,2024,2025)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG TIỂU LUẬN
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

XEM TRƯỚC TRANG MỤC LỤC

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1. QUY ĐỊNH VỀ GIỮ NGƯỜI TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 | 2 |
| 1.1. Các trường hợp giữ người trong trường hợp khẩn cấp | 2 |
| 1.2. Thẩm quyền áp dụng | 3 |
| 1.3. Thủ tục áp dụng | 4 |
| PHẦN 2. MỘT SỐ HẠN CHẾ TRONG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ BIỆN PHÁP GIỮ NGƯỜI TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN | 9 |
| 2.1. Về nội hàm và tên gọi của Điều 110 BLTTHS năm 2015 | 9 |
| 2.2. Về người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp không phải là người bị buộc tội | 11 |
| 2.3. Về căn cứ giữ người trong trường hợp khẩn cấp | 12 |
| 2.4. Về địa điểm áp giải và thời điểm tính thời hạn tạm giữ đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp | 13 |
| 2.5. Về thủ tục chứng kiến và thành phần người chứng kiến | 16 |
| KẾT LUẬN | 17 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 18 |
LỜI MỞ ĐẦU
Giữ người trong trường hợp khẩn cấp là một trong tám biện pháp ngăn chặn được quy định tại khoản 1 Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, một biện pháp ngăn chặn mới và thay thế biện pháp ngăn chặn “Bắt người trong trường hợp khẩn cấp” so với BLTTHS năm 2003. Biện pháp ngăn chặn này ra đời trên cơ sở thực hiện nghiêm quy định tại khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định”. Tuy là một biện pháp ngăn chặn mới nhưng Điều 110 BLTTHS năm 2015 cũng quy định khá cụ thể về căn cứ, thẩm quyền, thủ tục thực hiện khi áp dụng biện pháp ngăn chặn “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” đối với một cá nhân thực hiện hành vi phạm tội cần thiết phải áp dụng biện pháp này để hạn chế việc người đó bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ làm ảnh hưởng đến quá trình điều tra làm sáng tỏ vụ án. Tuy nhiên, qua gần 03 năm thực hiện quy định của BLTTHS nói chung và biện pháp ngăn chặn “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” nói riêng, cả về mặt luật thực định và thực tiễn áp dụng đã phát sinh nhiều hạn chế trong quá trình áp dụng. Qua nghiên cứu pháp luật, nhận thấy các quy định của BLTTHS năm 2015 về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp vẫn còn những hạn chế nhất định như: căn cứ giữ người tại điểm a khoản 1 Điều 110 BLTTHS năm 2015 chưa tương thích với quy định tại Điều 14 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội; quy định về thủ tục, địa điểm áp giải người bị giữ, bảo đảm quyền bào chữa cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp chưa hoàn thiện,…1Phạm Thái, Đinh Văn Đoàn, Hà Ngọc Quỳnh Anh, Một số vấn đề về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Kỷ yếu Hội thảo “Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự” năm 2020, Khoa luật Hình sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.19.
Từ những vấn đề nêu trên, nhóm tác giả thực hiện đề tài “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo BLTTHS 2015” để làm rõ căn cứ, thẩm quyền, thủ tục thực hiện khi áp dụng, đưa ra những hạn chế trong quy định của pháp luật để kiến nghị hoàn thiện.
CHƯƠNG 1. QUY ĐỊNH VỀ GIỮ NGƯỜI TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP
1.1. Các trường hợp giữ người trong trường hợp khẩn cấp
Theo quy định tại khoản 1 Điều 110 BLTTHS năm 2015, người có thẩm quyền có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” khi thuộc một trong ba trường hợp sau đây:
Thứ nhất, khi có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng . Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền bằng các biện pháp nghiệp vụ đã xác minh và có đủ căn cứ để khẳng định một người đang “chuẩn bị” thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, căn cứ này chỉ áp dụng đối với hành vi chuẩn bị phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, những người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng không phải là đối tượng để áp dụng biện pháp ngăn chặn giữ người trong trường hợp khẩn cấp.
Thứ hai, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” khi người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn . Đây là trường hợp tội phạm đã xảy ra nhưng người thực hiện hành vi phạm tội chưa bị phát hiện hành vi phạm tội của mình. Nếu trong vụ án có đồng phạm, người cùng thực hiện tội phạm hoặc trong trường hợp người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm “chính mắt” nhìn thấy và xác nhận rằng đúng người đó là người đã thực hiện hành vi phạm tội tại nơi xảy ra tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền xác minh thông tin và có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn này để ngăn việc người đã thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn.
Thứ ba, có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ . Căn cứ thứ ba để áp dụng biện pháp ngăn chặn “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” là cơ quan có thẩm quyền dựa trên việc phát hiện các “dấu vết tội phạm” ở người, tại chỗ ở, tại nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ để áp dụng. Dấu vết tội phạm hay cụ thể hơn là dấu vết hình sự là những phản ánh vật chất hình thành trong mối quan hệ tất yếu với tội phạm hoặc những sự việc mang tính chất hình sự, cần được thu thập và sử dụng để điều tra, xử lý những sự việc này theo quy định pháp luật2Viện Khoa học hình sự, Đề tài khoa học cấp Bộ mã số BK93-061-001, Bộ Công an, tr. 31.. Dấu vết hình sự được hình thành và tồn tại rất đa dạng và phong phú bởi lẽ tất cả các vụ việc mang tính hình sự xảy ra đều để lại nhiều dấu vết hình sự, mỗi dấu vết hình sự đều chứa đựng một lượng thông tin nhất định, phản ảnh một phần hoặc toàn bộ quá trình xảy ra vụ việc đó. Chính vì lẽ đó mà căn cứ áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp này rất phổ biến trên thực tế.
1.2. Thẩm quyền áp dụng
Biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với một cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật hình sự sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân của cá nhân đó trong việc bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Do đó, ngoài việc khi áp dụng biện pháp ngăn chặn “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” phải thuộc một trong ba trường hợp như phân tích nêu trên thì việc người có thẩm quyền để áp dụng biện pháp này là yếu tố về chủ thể có thẩm quyền có vai trò rất quan trọng.
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 18 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với 99.000 VNĐ!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (Luật số 19/2003/QH11) ngày 26/11/2003;
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Luật số 101/2015/QH13) ngày 27/11/2015;
- Công văn số 5024/VKSTC-V14 ngày 19/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải đáp vướng mắc liên quan đến quy định của BLTTHS và nghiệp vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết các vụ án hình sự trong ngành kiểm sát nhân dân;
- Khoa luật Hình sự (2020), Kỷ yếu Hội thảo “Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự”, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh;
- Vũ Gia Lâm, Biện pháp ngăn chặn “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” theo quy định của BLTTHS năm 2015, Tạp chí Kiểm sát số 01 năm 2019;
- Phạm Thái, Đinh Văn Đoàn, Hà Ngọc Quỳnh Anh, Một số vấn đề về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo BLTTHS năm 2015, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 04/2020;
- Ngọc Hiệp (2018), Một số điểm mới về áp dụng biện pháp ngăn chặn giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo quy định BLTTHS năm 2015, www.laocao.gov.vn;
- Lý Thanh Sang (2018), Biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
CHÚ THÍCH
- 1Phạm Thái, Đinh Văn Đoàn, Hà Ngọc Quỳnh Anh, Một số vấn đề về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Kỷ yếu Hội thảo “Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự” năm 2020, Khoa luật Hình sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.19.
- 2Viện Khoa học hình sự, Đề tài khoa học cấp Bộ mã số BK93-061-001, Bộ Công an, tr. 31.
