
- Trường học: Đại học Luật Hà Nội
- Điểm số: 8.50 điểm
- Số trang: 14 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B0418 | Năm 2026
- Luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (SĐ,BS 2021,2024,2025)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG TIỂU LUẬN
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

XEM TRƯỚC TRANG MỤC LỤC

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIỮ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ | 2 |
| 1.1. Khái niệm tạm giữ trong Tố tụng hình sự | 2 |
| 1.2. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về biện pháp ngăn chặn tạm giữ | 3 |
| 1.2.1 Đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn | 3 |
| 1.2.2. Chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ | 5 |
| 1.2.3. Thủ tục tạm giữ | 7 |
| 1.2.4. Thời hạn tạm giữ | 8 |
| CHƯƠNG 2: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIỮ | 10 |
| 2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật | 10 |
| 2.1.1. Sửa đổi, bổ sung mục đích của biện pháp tạm giữ | 10 |
| 2.1.2. Trình tự thủ tục bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp | 10 |
| 2.1.3. Sửa đổi, bổ sung căn cứ áp dụng biện pháp tạm giữ | 11 |
| 2.2. Giải pháp khác | 11 |
| KẾT LUẬN | 13 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 14 |
LỜI MỞ ĐẦU
Các biện pháp ngăn chặn là chế định quan trọng trong pháp luật TTHS Việt Nam. Việc quy định cũng như áp dụng các biện pháp ngăn chặn không chỉ có tác dụng ngăn chặn tội phạm mà còn có tác dụng không nhỏ đối với quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, cụ thể là: không để người phạm tội tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, hoặc trốn trách pháp luật, cản trở quá trình điều tra truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong đó có biện pháp tạm giữ đúng thì sẽ có tác dụng đảm bảo quá trình tố tụng hình sự được khách quan, góp phần phòng, chống tội phạm. Ngược lại nếu áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ không đúng có thể ảnh hưởng đến quyền con người, quyền và lợi ích khác của người bị áp dụng, cũng như ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan điều tra. Vì thế, việc xây dựng những quy phạm pháp luật về biện pháp tạm giữ nói riêng và các biện pháp ngăn chặn nói chung và việc áp dụng chúng của cơ quan có thẩm quyền phải chính xác, hợp tình, hợp lý thì mới có thể đạt được mục đích chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện kịp thời, nhanh chóng, xử lý công minh. Việc nghiên cứu về biện pháp ngăn chặn tạm giữ trong bộ luật TTHS Việt Nam là một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng, em xin chọn đề 1 làm đề tài cho bài tiểu luận của mình.
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIỮ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm tạm giữ trong Tố tụng hình sự
Tạm giữ là một trong những biện pháp ngăn chặn được BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025) quy định, do những người có thẩm quyền quyết định nhằm hạn chế tự do thân thể trong thời hạn nhất định, có thể áp dụng đối với người bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã. BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025) chưa có định nghĩa về khái niệm tạm giữ tuy nhiên tại Khoản 1 Điều 59 BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025) đã ghi nhận về mặt pháp lý khái niệm người bị tạm giữ “là bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ”.
Về bản chất pháp lý biện pháp ngăn chặn tạm giữ sẽ hạn chế một số quyền con người như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do đi lại. Theo quy định tại Điều 117 BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025) đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bao gồm người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã. Chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn là những cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành TTHS. Các đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ trong trường hợp cần thiết như: cần có thời gian để lấy lời khai và xác minh những tình tiết cần làm rõ về hành vi phạm tội, căn cước, lý lịch, nhân thân của người bị giữ, bị bắt; người bị giữ, bị bắt có khả năng trốn, tiếp tục phạm tội hoặc tiêu hủy chứng cứ. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ nhằm hạn chế một số quyền con người, ngăn chặn hành vi phạm tội, hành vi trốn tránh pháp luật hay hành vi cản trở hoạt động điều tra của người phạm tội, tạo điều kiện cho CQĐT thu thập chứng cứ, tài liệu, bước đầu xác định tính chất hành vi của người bị tạm giữ.1Đại học Luật Hà Nội (2024), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, NXB. Công an nhân dân, tr.256;
Trên cơ sở nghiên cứu quy định của BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025) và kế thừa những yếu tố hợp lý của những quan điểm trên, ta có thể hiểu rằng: “Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do người có thẩm quyền, cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra áp dụng, tạm thời hạn chế tự do thân thể trong một thời hạn nhất định đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm ngăn chặn tội phạm trên cơ sở đó ra các quyết định khởi tố bị can, tạm giam, áp dụng các biện pháp ngăn chặn hoặc trả tự do cho họ”.
1.2. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025) về biện pháp ngăn chặn tạm giữ
Nhìn chung, đối tượng bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, tuy nhiên điều luật cũng không quy định bắt buộc trong tất cả mọi trường hợp bắt đó đều cần phải tạm giữ, mà trong một số trường hợp bắt người phạm tội quả tang, nếu xét thấy hành vi phạm tội nhỏ, tính chất ít nghiêm trọng, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội lại có nơi cư trú rõ ràng, không có cơ sở cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra thì trong các trường hợp đó không cần thiết phải tạm giữ họ.
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 14 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với 59.000 VNĐ!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025);
- Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam – NXB Công an nhân dân;
- Nguyễn Hoàng Phương (2017), Biện pháp ngăn chặn tạm giữ trong tố tụng hình sự từ thực tiễn áp dụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội;
- Đỗ Hồng Bảo Ngọc (2019), Biện pháp ngăn chặn tạm giữ trong tố tụng hình sự và thực tiễn thi hành tại tỉnh Thái Bình, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội;
- Bùi Thị Hạnh (2023). Một số vấn đề về biện pháp ngăn chặn tạm giữ trong tố tụng hình sự, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số 3(65)/2023. Đường dẫn: https://khoahockiemsat.hpu.vn/portal/article/view/232/222, truy cập ngày 02/02/2026.
CHÚ THÍCH
- 1Đại học Luật Hà Nội (2024), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, NXB. Công an nhân dân, tr.256;
